Xuân Hải Ml

Xuân Hải Ml

Bài văn hay giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam

Ở hà nội vào những năm 30, từ những tấm áo dài cổ điển dân tộc, có phần nào cổ lỗ, họa sĩ cát tường đã cách tân, biến tấm áo dài cũ thành áo dài kiểu mới, gọi là “áo dài tân thời”. Thứ có cổ áo cao, thứ không cổ, còn khoét thêm cho rộng đê ngầm khoe cái cổ trắng nõn, hoặc cố cao ba ngấn. Tà trước không mở ở giữa mà kín, chỉ cài cúc phía bên phải. Tấm áo “tân thời” đó, tấm áo ấy vẫn còn rất ít người mặc, chủ yếu là con nhà giàu sang, sinh viên, “các cô, các mợ…”.

Tấm áo dài cổ, loại từ xưa để lại có cái khác. Sang trọng ngày hội, ngày lễ, ngày tết… Có áo mớ ba mớ bảy, là loại áo mặc nhiều cái chồng lên nhau với nhiều màu khác nhau.

Áo dài ngày thường giản dị hơn. Đi chợ, đi làm, đi buôn bán chỉ là tấm áo tứ thân, nghĩa là bốn khổ vải dọc. Riêng hai thân trước mở ở giữa, và thắt nút hai vạt lại với nhau, khi chỉ hờ hững thắt trễ tràng một nút, hoặc vội vã, cần chắc chắn hơn, thì thắt con đo lỏng lẻo để gió không tốc tung lên kẻo bị chê là không đứng đắn.

Vài năm trd lại đây, sau mấy chục năm bị quên lãng, áo dài được xuất hiện trở lại. Thật đẹp và thật vui. Các cô nhân viên tiếp tân, bưu điện, một số cửa hàng, nhất là ngày lễ, ngày tết… Làm đường phố tươi đẹp, sinh động hẳn lên. Giờ tan trường, các nữ sinh với tấm áo dài trắng như bướm bay phấp phới trên đường phố khiến nhiều người bồihồi trước tuổi trẻ được chăm sóc chu đáo, và nhớ lại dăm chục năm trước, những tấm áo dài nữ sinh như thế đã làm mê mệt bao chàng trai thành phố. Với nữ sinh, có lẽ đẹp nhất vẫn là màu trắng tinh khiết. Nhưng nghịch mắt nếu một cô nào muốn khoe cái ba-lô quai đen mới mua được, đem quàng qua vai, thay cho chiếc cặp ôm trước ngực. Đây là những nét phá nhau, nó không còn là mốt nữa mà là phản mốt. Áo dài là sự mềm mại, mỏng manh, nó không chấp nhận cái ba-lô mang dáng du lịch ôm đồm tất bật và cứng dơ.

Năm 1993, váy đầm các loại phát triển rầm rộ. Cũng là mốt. Không sao cả. Nhưng xét ra, tấm áo dài vẫn là nét đẹp việt nam, từ áo mớ ba mớ bảy, áo tứ thân, áo đổi vai, áo đồng lầm, áo tân thời, hay chỉ đơn thuần là tấm áo dài, ngắn một chút theo kiểu miền nam hay dài hơn theo kiểu hà nội, tay thụng hay tay lửng, cổ cao hay cổ rộng, để trơn hay vẽ hoa… Mong sao tấm áo dài được có mặt hơn nữa, làm cuộc sống tươi vui lên.

Nguồn:

Giải thích về câu ca dao hay về tinh yêu đôi lứa

DÀN BÀI

1.Mở bài

–     Tình yêu là một chủ đề phổ biến trong văn chương xưa nay.

–     Ca dao cũng có những bài rất hay, rất lạ nói về tình yêu:

Rủ nhau đi hái mẫu đơn

Mẫu đơn không hái hái cơn dành dành (cơn – cây) Rủ nhau đi hái dành dành Dành dành không hải hái cành mẫu đơn.

2.Thân hài

a.  Giải thích ý nghĩa bài ca dao

–     Bài ca dao là một câu chuyện ngắn gọn, lí thú, có đủ cả bối cảnh, nhân vật và tình huống:

Rủ nhau đi hái mẫu đơn

Mẫu đơn không hái hái cơn dành dành (cơn=cây)

Rủ nhau đi hái dành dành Dành dành không hái hái cành mẫu đơn.

Bối cảnh là một miền quê thanh bình, dân dã. Nhân vật là một đôi lứa đang yêu nhau say đắm.

–     Tình cảm đến độ say đắm tạo ra những ảo giác, nhầm lẫn tưởng chừng vô lí nhưng hết sức đáng yêu: mẫu đơn – dành dành, dành dành – mẫu đơn.

–     Thiên nhiên được mượn làm cái cớ để bộc bạch tình yêu đôi lứa.

–     Tình yêu trong sáng gắn bó, hòa quyện với thiên nhiên đầy sức sống.

–     Ý nghĩa chung của bài ca dao là ca ngợi tình yêu trong sáng của người lao động.

3.Kết bài

Đây là một bài ca dao giản dị, vui tươi nhưng chứa đựng một ý nghĩa sâu xa: phản ánh đời sống tình cảm lành mạnh, phong phú của người nông dân Việt Nam thuở trước.

BÀI LÀM

Nói đến niềm vui của đôi lứa yêu nhau, nhất là ở buổi ban đầu, văn chương xưa nay chẳng thiếu lời hay ý đẹp. Trong ca dao, có niềm vui chỉ làm bằng cái giả đò ngó lơ im lặng, mặc dù thương em đứt ruột. Nhưng niềm vui sau đây mới là lạ:

Rủ nhau đi hái mẫu đơn

Mầu đơn không hái hái cơn dành dành (cơn = cây)

Rủ nhau đi hái dành dành Dành dành không hải hái cành mẫu đơn.

Hai người rủ nhau đi chơi với mục đích rõ ràng là đi hái mẫu đơn, sao lại hái dành dành? Và mục đích cũng không kém rõ ràng là đi hái dành dành mà cuối cùng lại hái mẫu đơn? Sao có chuyện kì lạ vậy?

Có lẽ đây là lời của những trái tim đang yêu, đang say sưa trong hạnh phúc. Ta bắt gặp cái môtíp quen thuộc của những bài ca dao cùngmột chủ đề với nó: Rủ nhau xuống biển mò cua…,Rủ nhau lên núi đốn than…Vậy đích thị “nhau” ởđây là hai người: chàng trai và cô gái. Bao yêu thương ẩn chứa đằng sau cái từ mộc mạc, dân dã ấy. Đã rủ nhau thì tất có hò, có hẹn.

Chúng ta hãy để cho trí tưởng tượng của mình chắp cánh bay bổng. Thử hình dung ra cảnh hội hè, tế lễ ở đình làng hay ở hội đền này chùa nọ vào các dịp Tết Nguyên Đán, Thanh minh, hát chèo, hát bội… Đó là những cơ hội lí tưởng cho trai gái hẹn hò. Có điều, mọi người thì đến lễ hội chung, còn các cặp trai gái yêu nhau thì đi đến lễ hội riêng của trái tim họ.

Thường thường, sân chùa, sau dinh là nơi hò hẹn. Ớ nơi đó vắng người nhưng có lá, có hoa đủ loại. Nhưng sao cặp uyên ương này cứ quanh quẩn vậy? Rõ ràng là: Rủ nhau đi hái mẫu đơn mà rốt cuộc lại hái dành dành và lẽ ra đi hái dành dành thì lại hái mẫu đơn.

Thử đọc những câu sau đây: Lá này gọi lá xoan đào, Tương tự gọi nó thế nào hở em? Lá khoai anh ngỡ lá sen, Bóng trăng anh tưởng bóng đèn anh khêu. Hoặc: Thẩn thơ đứng gốc cây mai, Bóng mình lại ngỡ bóng ai, mình lầm… Trăm sự lẫn lộn buồn cười ấy đều do tình yêu đã đến độ say sưa.

Mẫu đơn là một loài hoa đẹp, dành dành là loại hoa thường. Mẫu đơn được trồng chốn cao sang, dành dành đặt đâu sống đó. Có bao giờ hai loại hoa này mọc chung một chỗ đâu? Vậy làm sao có chuyện nhầm lẫn giữa hoa nọ và hoa kia được? Thì ra cả mẫu đơn lẫn dành dành ở đây chỉ được mượn làm cái cớ để bộc bạch cung bậc cao nhất của tình yêu: say sưa đến mê mẩn, đến thẫn thờ, nhìn bóng mình mà lầm là bóng ai; đến mất trí, mất hồn: lá khoai nhìn ra lá sển, bóng trăng mà ngỡ bóng đèn định khêu lên cho tỏ…

Mê mẩn tạo ra ảo giác, bởi vậy mới có những nhầm lẫn đáng yêu như thế. Trước con mắt của người đang yêu, cái gì mà chẳng đẹp? Cho nên mẫu đơn hay dành dành không phải là điều quan trọng. Quan trọng là anh yêu em, em yêu anh, chúng ta yêu nhau.

Nghĩ kỹ hơn nữa thì trái tim đang yêu không chỉ thấy mọi vật xung quanh mình đều đẹp mà nó còn xem nhẹ tất cả, quên khuấy tất cả. Vũ trụ chỉ còn có hai người, hai trái tim đang nồng cháy tình yêu, ngoài ra không còn gì khác. Rút cục mẫu đơn chẳng có mà dành dành cũng không. Chỉ có anh và em, chỉ có tình yêu của đôi ta mà thôi.

Bốn câu ca dao quẩn quanh, quanh quẩn bởi thế giới của anh và em đã đầy đủ, trọn vẹn, khép kín trong hạnh phúc vô biên của tình yêu.

Nếu chỉ đọc qua bài ca dao trên vài lần, chúng ta sẽ không hiểu hết cái hay, cái đẹp của nó. Nhưng nếu chịu khó đọc đi đọc lại và suy nghĩ, nghiền ngẫm, ta sẽ thấy sau lớp vỏ chữ nghĩa là cả một ý tứ sâu xa và thấp thoáng đâu đây nụ cười bao dung, đôn hậu của người đời đối với những đôi lứa đang yêu.

Nguồn:

Thuyết mình về đặc điểm thơ lục bát

Bài làm

A. Những đặc điểm của thơ lục bát:

–         Câu trên 6 “tiếng” (câu lục)

Câu dưới 8 “tiếng” (câu bát)

Và cứ như vậy kế tiếp nhau.

–        Cách hiệp vần: tiếng cuối câu lục vần với tiếng 6 câu bát, rồi tiếng cuối câu bát lại vần với tiếng cuối câu lục. Như vậy câu bát có vần lưng ở tiếng 6 và vần chân ở tiếng thứ 8.

Ví dụ 1:

Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bèn đường hôm nao.

(Ca dao)

–        Ngắt nhịp: nhịp chần là chủ yếu, trong đó nhịp độ là co’ sở. Đôi khi có những linh hoạt.

Ví dụ 2:

Yêu nhau / cởi áo / cho nhau Về nhà / dối mẹ / qua cầu / gió bay.

(Ca dao)

Ví dụ 3:

Ôi Kim Lang! / Hỡi Kim Lang!

Thôi thôi / thiếp đã phụ chàng / từ đây!

(Nguyễn Du)

–        Thanh: tiếng thứ hai thanh bằng, tiếng thứ tư thanh trắc, tiêng thứ sáu và tiêng thứ tám thanh bằng, còn các tiếng ở vị trí lẻ tự do theo luật “nhất, tam, ngũ bất luận”.

1 fi9.

Nếucó tiểu đối ở câu lục thì có thế’ thay đổi thanh.

Vi dụ 4:

Khi tính rượu, lúc tàn canh Giật mình, mình lại thương mình xót xa.

(Nguyễn Du)

Ở đây tiếng thứ hai thanh trắc (tỉnh), tiếng thứ tư thanh trắc (lúc)

Lưu ý: về thanh, còn có luật cao thấp. Nếu tiêng thứ sáu của câu bốt là thanh ngang thì tiếng thứ tám của câu thơ ấy là thanh huyền và ngược lại.

Ví dụ 5:

Ánh xuân lướt cỏ xuân tươi

Bẽn rừng thổi sáo một (7mT) Kim (^5ong) (Thê Lữ) thanh ngang thanh huyền

Ví dụ 6:

Thông reo bờ suôi rì rào

Chim chiều chíu chít ai (nao) kêu                                                    (Tố Hữu)

thanh huyền thanh ngang

B. Khi nói rằng thơ lục bát bằng phẳng, đều đều, đơn điệu là chưa chính xác ví:

Ta thử phân tích ví dụ sau:

Ví dụ 7:

Cái ngủ / mày ngủ / cho lâu Mẹ mày / đi cấy / đồng sâu / chưa về.

(Ca dao)

-» Cặp lục bát này có cách ngắt nhịp 2/2/2 (câu lục) và 2/2/2/2 (cAi bát). Nhịp thơ như thế là bằng phẳng, đều đều, đơn điệu.

Ví dụ 8:

Bắt phong trần / phải phong trần,

Cho thanh cao / mới được phần / thanh cao.

(Nguyễn Du)

-> Cặp lục bát này có cách ngắt nhịp 3/3 (câu lục) và 3/3/2 (câu bát). Nhịp thơ như thế là rất linh hoạt, diễn tả được cái trắc trở, dâu bể hay sung sướng của số phận con người do định mệnh và đấng tối cao (trời) quyết định.

Tóm lại, thơ lục bát bằng phẳng, đều đều, đơn điệu là do tài năng của người làm thơ chứ không phải do thể thơ. Chẳng hạn, những câu thơ lục bát của thiên tài Nguyễn Du, của nhà thơ Tô’ Hữu, của Nguyễn Bính luôn luôn đậm đà tính dân tộc, giàu nhạc điệu, say lòng người và bất tử với thời gian.

Nguồn:

Copyright © 2018 Xuân Hải Ml