Tổng hợp các bài văn thuyết minh
  • Bài văn hay giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam

    Ở hà nội vào những năm 30, từ những tấm áo dài cổ điển dân tộc, có phần nào cổ lỗ, họa sĩ cát tường đã cách tân, biến tấm áo dài cũ thành áo dài kiểu mới, gọi là “áo dài tân thời”. Thứ có cổ áo cao, thứ không cổ, còn khoét thêm cho rộng đê ngầm khoe cái cổ trắng nõn, hoặc cố cao ba ngấn. Tà trước không mở ở giữa mà kín, chỉ cài cúc phía bên phải. Tấm áo “tân thời” đó, tấm áo ấy vẫn còn rất ít người mặc, chủ yếu là con nhà giàu sang, sinh viên, “các cô, các mợ…”.

    Tấm áo dài cổ, loại từ xưa để lại có cái khác. Sang trọng ngày hội, ngày lễ, ngày tết… Có áo mớ ba mớ bảy, là loại áo mặc nhiều cái chồng lên nhau với nhiều màu khác nhau.

    Áo dài ngày thường giản dị hơn. Đi chợ, đi làm, đi buôn bán chỉ là tấm áo tứ thân, nghĩa là bốn khổ vải dọc. Riêng hai thân trước mở ở giữa, và thắt nút hai vạt lại với nhau, khi chỉ hờ hững thắt trễ tràng một nút, hoặc vội vã, cần chắc chắn hơn, thì thắt con đo lỏng lẻo để gió không tốc tung lên kẻo bị chê là không đứng đắn.

    Vài năm trd lại đây, sau mấy chục năm bị quên lãng, áo dài được xuất hiện trở lại. Thật đẹp và thật vui. Các cô nhân viên tiếp tân, bưu điện, một số cửa hàng, nhất là ngày lễ, ngày tết… Làm đường phố tươi đẹp, sinh động hẳn lên. Giờ tan trường, các nữ sinh với tấm áo dài trắng như bướm bay phấp phới trên đường phố khiến nhiều người bồihồi trước tuổi trẻ được chăm sóc chu đáo, và nhớ lại dăm chục năm trước, những tấm áo dài nữ sinh như thế đã làm mê mệt bao chàng trai thành phố. Với nữ sinh, có lẽ đẹp nhất vẫn là màu trắng tinh khiết. Nhưng nghịch mắt nếu một cô nào muốn khoe cái ba-lô quai đen mới mua được, đem quàng qua vai, thay cho chiếc cặp ôm trước ngực. Đây là những nét phá nhau, nó không còn là mốt nữa mà là phản mốt. Áo dài là sự mềm mại, mỏng manh, nó không chấp nhận cái ba-lô mang dáng du lịch ôm đồm tất bật và cứng dơ.

    Năm 1993, váy đầm các loại phát triển rầm rộ. Cũng là mốt. Không sao cả. Nhưng xét ra, tấm áo dài vẫn là nét đẹp việt nam, từ áo mớ ba mớ bảy, áo tứ thân, áo đổi vai, áo đồng lầm, áo tân thời, hay chỉ đơn thuần là tấm áo dài, ngắn một chút theo kiểu miền nam hay dài hơn theo kiểu hà nội, tay thụng hay tay lửng, cổ cao hay cổ rộng, để trơn hay vẽ hoa… Mong sao tấm áo dài được có mặt hơn nữa, làm cuộc sống tươi vui lên.

    Nguồn:

  • Giải thích về câu ca dao hay về tinh yêu đôi lứa

    DÀN BÀI

    1.Mở bài

    –     Tình yêu là một chủ đề phổ biến trong văn chương xưa nay.

    –     Ca dao cũng có những bài rất hay, rất lạ nói về tình yêu:

    Rủ nhau đi hái mẫu đơn

    Mẫu đơn không hái hái cơn dành dành (cơn – cây) Rủ nhau đi hái dành dành Dành dành không hải hái cành mẫu đơn.

    2.Thân hài

    a.  Giải thích ý nghĩa bài ca dao

    –     Bài ca dao là một câu chuyện ngắn gọn, lí thú, có đủ cả bối cảnh, nhân vật và tình huống:

    Rủ nhau đi hái mẫu đơn

    Mẫu đơn không hái hái cơn dành dành (cơn=cây)

    Rủ nhau đi hái dành dành Dành dành không hái hái cành mẫu đơn.

    Bối cảnh là một miền quê thanh bình, dân dã. Nhân vật là một đôi lứa đang yêu nhau say đắm.

    –     Tình cảm đến độ say đắm tạo ra những ảo giác, nhầm lẫn tưởng chừng vô lí nhưng hết sức đáng yêu: mẫu đơn – dành dành, dành dành – mẫu đơn.

    –     Thiên nhiên được mượn làm cái cớ để bộc bạch tình yêu đôi lứa.

    –     Tình yêu trong sáng gắn bó, hòa quyện với thiên nhiên đầy sức sống.

    –     Ý nghĩa chung của bài ca dao là ca ngợi tình yêu trong sáng của người lao động.

    3.Kết bài

    Đây là một bài ca dao giản dị, vui tươi nhưng chứa đựng một ý nghĩa sâu xa: phản ánh đời sống tình cảm lành mạnh, phong phú của người nông dân Việt Nam thuở trước.

    BÀI LÀM

    Nói đến niềm vui của đôi lứa yêu nhau, nhất là ở buổi ban đầu, văn chương xưa nay chẳng thiếu lời hay ý đẹp. Trong ca dao, có niềm vui chỉ làm bằng cái giả đò ngó lơ im lặng, mặc dù thương em đứt ruột. Nhưng niềm vui sau đây mới là lạ:

    Rủ nhau đi hái mẫu đơn

    Mầu đơn không hái hái cơn dành dành (cơn = cây)

    Rủ nhau đi hái dành dành Dành dành không hải hái cành mẫu đơn.

    Hai người rủ nhau đi chơi với mục đích rõ ràng là đi hái mẫu đơn, sao lại hái dành dành? Và mục đích cũng không kém rõ ràng là đi hái dành dành mà cuối cùng lại hái mẫu đơn? Sao có chuyện kì lạ vậy?

    Có lẽ đây là lời của những trái tim đang yêu, đang say sưa trong hạnh phúc. Ta bắt gặp cái môtíp quen thuộc của những bài ca dao cùngmột chủ đề với nó: Rủ nhau xuống biển mò cua…,Rủ nhau lên núi đốn than…Vậy đích thị “nhau” ởđây là hai người: chàng trai và cô gái. Bao yêu thương ẩn chứa đằng sau cái từ mộc mạc, dân dã ấy. Đã rủ nhau thì tất có hò, có hẹn.

    Chúng ta hãy để cho trí tưởng tượng của mình chắp cánh bay bổng. Thử hình dung ra cảnh hội hè, tế lễ ở đình làng hay ở hội đền này chùa nọ vào các dịp Tết Nguyên Đán, Thanh minh, hát chèo, hát bội… Đó là những cơ hội lí tưởng cho trai gái hẹn hò. Có điều, mọi người thì đến lễ hội chung, còn các cặp trai gái yêu nhau thì đi đến lễ hội riêng của trái tim họ.

    Thường thường, sân chùa, sau dinh là nơi hò hẹn. Ớ nơi đó vắng người nhưng có lá, có hoa đủ loại. Nhưng sao cặp uyên ương này cứ quanh quẩn vậy? Rõ ràng là: Rủ nhau đi hái mẫu đơn mà rốt cuộc lại hái dành dành và lẽ ra đi hái dành dành thì lại hái mẫu đơn.

    Thử đọc những câu sau đây: Lá này gọi lá xoan đào, Tương tự gọi nó thế nào hở em? Lá khoai anh ngỡ lá sen, Bóng trăng anh tưởng bóng đèn anh khêu. Hoặc: Thẩn thơ đứng gốc cây mai, Bóng mình lại ngỡ bóng ai, mình lầm… Trăm sự lẫn lộn buồn cười ấy đều do tình yêu đã đến độ say sưa.

    Mẫu đơn là một loài hoa đẹp, dành dành là loại hoa thường. Mẫu đơn được trồng chốn cao sang, dành dành đặt đâu sống đó. Có bao giờ hai loại hoa này mọc chung một chỗ đâu? Vậy làm sao có chuyện nhầm lẫn giữa hoa nọ và hoa kia được? Thì ra cả mẫu đơn lẫn dành dành ở đây chỉ được mượn làm cái cớ để bộc bạch cung bậc cao nhất của tình yêu: say sưa đến mê mẩn, đến thẫn thờ, nhìn bóng mình mà lầm là bóng ai; đến mất trí, mất hồn: lá khoai nhìn ra lá sển, bóng trăng mà ngỡ bóng đèn định khêu lên cho tỏ…

    Mê mẩn tạo ra ảo giác, bởi vậy mới có những nhầm lẫn đáng yêu như thế. Trước con mắt của người đang yêu, cái gì mà chẳng đẹp? Cho nên mẫu đơn hay dành dành không phải là điều quan trọng. Quan trọng là anh yêu em, em yêu anh, chúng ta yêu nhau.

    Nghĩ kỹ hơn nữa thì trái tim đang yêu không chỉ thấy mọi vật xung quanh mình đều đẹp mà nó còn xem nhẹ tất cả, quên khuấy tất cả. Vũ trụ chỉ còn có hai người, hai trái tim đang nồng cháy tình yêu, ngoài ra không còn gì khác. Rút cục mẫu đơn chẳng có mà dành dành cũng không. Chỉ có anh và em, chỉ có tình yêu của đôi ta mà thôi.

    Bốn câu ca dao quẩn quanh, quanh quẩn bởi thế giới của anh và em đã đầy đủ, trọn vẹn, khép kín trong hạnh phúc vô biên của tình yêu.

    Nếu chỉ đọc qua bài ca dao trên vài lần, chúng ta sẽ không hiểu hết cái hay, cái đẹp của nó. Nhưng nếu chịu khó đọc đi đọc lại và suy nghĩ, nghiền ngẫm, ta sẽ thấy sau lớp vỏ chữ nghĩa là cả một ý tứ sâu xa và thấp thoáng đâu đây nụ cười bao dung, đôn hậu của người đời đối với những đôi lứa đang yêu.

    Nguồn:

  • Bài văn hay thuyết minh về cầu Hàm Rồng

    Hàm Rồng trở thành bất tử với những chiến công oanh liệt và cảnh trí nên thơ. Nhưng hai chữ Hàm Rồng (tên chữ là long hạm hay long đại) vốn là tên riêng của một ngọn núi hình đầu rồng với cái thân uốn lượn như một con rồng từ làng ràng (dương xá) theo dọc sông mã bên phía bờ nam. Trên núi rồng còn có động long quang, hang ăn thông sang bên kia như hai mắt rồng, được gọi là hang mắt rồng (cho nên còn có tên gọi là núi mắt rồng). Truyền thuyết kể lại, con rồng đang vờn hạt ngọc ở phía bên kia sông bỗng bị mũi tên độc trúng vào mắt phải, nên gục xuống ở bên sông. Mắt phải có lỗ ăn thông lên trên, mùa mưa nước chảy xuống có màu đỏ, ấy là nước mắt rồng. Ớ dưới động long quang, có mỏm đá nhô ra, hàm trên há rộng, hàm dưới ngập trong nước như đang hút nước, nên có tên chữ là long hạm, gọi nôm na là Hàm Rồng.

    Bên kia sông, có hòn núi ngọc, tên chữ là hỏa châu phong hay còn gọi là núi nít, ngọn núi này tròn trăn, các lớp đá chen dày tua tủa như ngọn lửa từ trong lòng đất bốc lên, bởi vậy mà gọi là hỏa châu phong..

    Chín mươi chín ngọn bèn đông còn hòn núi nít bên sông chưa về.

    Chung quanh núi rồng có nhiều ngọn núi trông rất ngoạn mục như: ngũ hoa phong có hình năm đóa hoa sen chung một gốc, mọc lên từ đầm lầy. Có hang tiên với những nhũ đá mang nhiều vẻ kì thú: hình rồng hút nước, hình các vị tiên…, có ngọn phù thi sơn trông xa như một người đàn bà thắt bên mình một dải lụa xanh nằm gối đầu vào thân rồng. Rồi núi mẹ, núi con như hình hai quả trứng, có núi tả ao, vũng sao sa có nước trong vắt quanh năm. Rồi núi con mèo, núi cánh tiên đều có hình thù như tên gọi.

    Với cảnh trí nên thơ như vậy, Hàm Rồng là nơi dừng chân của bao tao nhân mặc khách: lí thường kiệt, phạm sư mạnh, lê quát, nguyễn trãi, lê thánh tông, ngô thì sĩ, nguyễn thượng hiền, tản đà v.v…; ở động Long Quang vẫn còn một số bài thơ khắc trên vách đá.

    Hàm Rồng không những có cảnh đẹp thiên nhiên mà còn có bề dày lịch sử hàng trăm thế kỉ, đó là khu di chỉ núi đọ (cách Hàm Rồng 4km về phía bắc) tiêu biểu cho thời đại đá cữ. Và từ núi đọ đi xuống phía đông nam, cách hàm. Rồng lkm là khu di chỉ đông sơn, tiêu biếu cho nền văn hóa dân tộc thời kì đồng thau.

    Hàm Rồng còn là nơi ghi dâái nhiều chiến tích lịch sử. Tại đây, thế kỉ xiii, chu nguyên lương, một nhà nho đã hưởng ứng khí thế diên hồng, chiêu tập dân làng và học trò của mình thành đội quân, lập nên chiến công oanh liệt ở vạn kiếp.

    Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống mĩ, quân và dân Hàm Rồng đã viết nên trang sử hào hùng.

    Với quyết tâm cắt đứt mạch máu giao thông quan trọng này của ta, bộ quốc phòng mĩ đã trực tiếp chỉ đạo phương án đánh phá Hàm Rồng. Chúng đã huy động 121 lần tốp với 2924 lần chiếc máy bay đánh phá 1096 trận, ném 71600 tấn bom phá với 11526 quả, 99 bom nổ chậm, bắn 600 tên lửa, 2840 quả rốckét, 2178 quả đạn pháo kích, hàng trăm bom bi và thủy lôi. Tính bình quân mỗi người dân ở đây phải chịu đựng 5 tấn bom đạn của địch. Chỉ riêng trận đánh đầu tiên ngày 3 và 4 tháng 4 – 1965 đã diễn ra vô cùng ác liệt. Địch đã xuất kích 174 lần tốp, 453 lần chiếc máy bay, ném 350 quả bom từ 500 đến loookg, bắn hàng trăm quả tên lửa. Nhưng cũng trong hai ngày này, quân và dân Hàm Rồng đã chiến đấu ngoan cường, bắn rơi 47 máy bay, bắt sống nhiều giặc lái. Và trong hai lần chống chiến tranh phá hoại, Hàm Rồng đã hạ 116 máy bay, bắt sống nhiều giặc lái, trong đó có hai pháo đài b52, giữ vững cầu, lập nên một kỉ lục bảo vệ cầu chưa từng có trong lịch sử thế giới, đem lại niềm tự hào cho dân tộc, bạn bè khắp thế giới khâm phục, ca ngợi. Cũng trên mảnh đất rực lửa anh hùngnày, đã sản sinh nhiều tập thể anh hùng và những chiến sĩ anh hùng: đại đội 4 pháo cao xạ, đồn công an nhân dân Hàm Rồng, phần đội 3 công an nhân dân vũ trang, đại đội dân quân tiếu khu nam ngạn, nhà máy điện 4 – 4, đội cầu phà 19 – 5, các anh hùng ngô thị tuyển, đỗ chanh, lê kim hồng v.v…

    Hàm Rồng, nơi hội tụ nhừng vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên, mảnh đất có bề dày lịch sử, tiêu biểu cho nền văn hóa dân tộc, và truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước ngoan cường, mãi mãi là niềm kiêu hãnh, tự hào của nhân dân cả nước và là điểm du lịch hấp dẫn của du khách gần xa.

    Nguồn:

  • Thuyết mình về thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật

    Bài làm

    Đặc điểm của thề thơ thất ngôn bát cú Đường luật:

    a)        Về ngắt nhịp : theo kiều phối hợp chẵn lẻ 4-3.

    b)        Về phối thanh:

    – Luật: có sự phôi hợp các tiếng bằng và tiếng trắc.

    Chú ý : tiếng thứ nhất, thứ ba, thứ năm có thế’ linh hoạt về luật băng trắc.

    – Niêm: niêm có nghĩa đen là dính. Niêm là sự liên lạc về âm luật của hai câu thơ Đường luật. Hai câu thơ niêm với nhau khi nào chữ của câu thứ nhì của hai câu cùng theo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là trắc. Những cặp sau đây trong tho’ thất ngôn bát cú Đường luật niêm với nhau: 1-8, 2-3, 4-5, 6-7. Không niêm theo đúng luật gọi là thất niêm.

    THƠ LUẬT BẰNG VẦN BẰNG

    B

    B

    T

    T

    T

    B

    B

    T

    T

    B

    B

    T

    T

    B

    T

    T

    B

    B

    B

    T

    T

    B

    B

    T

    T

    T

    B

    B

    B

    B

    T

    T

    B

    B

    T

    T

    T

    B

    B

    T

    T

    B

    T

    T

    B

    B

    B

    T

    T

    B

    B

    T

    T

    T

    B

    B

    THƠ LUẬT TRẮC VẦN BẢNG

    T

    T

    B

    B

    T

    T

    B

    B

    B

    T

    T

    T

    B

    B

    B

    B

    T

    T

    B

    B

    T

    T

    T

    B

    B

    T

    T

    B

    T

    T

    B

    B

    B

    T

    T

    B

    B

    T

    T

    T

    B

    B

    B

    B

    T

    T

    B

    B

    T

    T

    T

    B

    B

    T

    T

    B

    –        Hiệp vần: vần chân, độc vận, vào tiếng cuối ở các câu 1, 2, 4,

    6, 8.

    –        Bố cục:

    + Hai câu đề: câu 1 mở bài gọi là phá đề, câu 2 vào bài gọi là thừa đề.

    + Hai câu luận: câu 5 và 6 đối nhau, dùng đế bàn luận về đề.

    + Hai câu kết: câu 7 và 8 tóm tát ý nghĩa cả bài.

    * Như vậy, bố cục trên có tác dụng:

    –        Thơ không chỉ có tình mà còn có ý. Thơ có miêu tả nhưng kết thúc không bằng miêu tả mà bằng bày tỏ ý và tình.

    –        Tính chất luận đề của thế thơ luôn sáng rõ, rành mạch.

    Ví dụ 1: Thất ngôn bát cú Đường luật làm theo luật bằng vần băng (luật bằng là luật thơ bắt đầu bằng hai tiếng bằng, vần bằng ở cuối câu):

    Tự TÌNH

    Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

    Trơ cái hồng nhan với nước non Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

    Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.

    Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,

    Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.

    Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,

    Mảnh tình san sẻ tí con con!

    (Hồ Xuân Hương)

    Nhận xét:

    a)       Về ngắt nhịp: 4-3

    b)       Về phối thanh:

    –        Về luật : luật bằng vần bằng.

    –        Về niêm: câu 1-8; 2-3; 4-5; 6-7 niêm với nhau (tiếng thứ nhì)

    Ví dụ :

    Đêm

    khuya

    văng

    văng

    trống

    canh

    dồn

    T

    ®

    B

    T

    T

    B

    B

     

    Mảnh

    tình

    san

    sẻ

    con

    con

    T

    ®

    B

    T

    T

    B

    B

    – về hiệp vần: vần chân, độc vận, vào tiếng cuối ở các câu 1, 2, 4, 6, 8 (dồn – non – tròn – hòn – con)

    c)             Về bô cục:

    –              Hai câu đề: Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

    (câu phá đề)

    Trơ cái hồng nhan với nước non (câu thừa đề)

    –  Hai câu thực (đối nhau):

    Chén rượu

    hương đưa

    say lại tỉnh

    Vầng trăng

    bóng xế

    khuyết chưa tròn

    (chén rượu >< vầng trăng; hương đưa >< bóng xế; say lại tinh >< khuyết chưa tròn). - Hai câu luận (đối nhau): Xiên ngang mặt đất rêu từng đám Đâm toạc chân mây đá mấy hòn (xiên ngang >< đâm toạc; mặt đất >< chân mây; rêu từng đám >< đá mấy hòn). - Hai câu kết (tóm tắt ý nghĩa cả bài): Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con! (Nỗi chua chát, chán ngán, nặng nề, ngậm ngùi, xót xa của nữ sĩ Hồ Xuân Hương với chính cảnh ngộ trớ trêu và thân phận của mình). Ví dụ 2: Thất ngôn bát cú Đường luật làm theo luật trắc vần băng (luật trắc là luật thơ bắt đầu bằng hai tiếng trắc; vần băng cuối câu): Phiên âm: Dịch thơ: THU HÚNG Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm, Vu Sơn, Vu Giáp khí tiêu sâm Giang gian ba lăng kiêm thiển dũng, Tái thượng phong vân tiếp địa âm Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ, Cô chu nhất hệ cố viên tâm. Hàn y xứ xứ thôi đao xích, Bạch Đế thành cao cấp mộ châm. (Đỗ Phủ) CẢM XỨC MÙA THU Lác đác rừng phong hạt móc sa, Ngàn năm hiu hắt khí thu lòa Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm Mặt đất mây đùn cửa ải xa. Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ củ, Con thuyền buộc chặt mối tình nhà. Lạnh lùng giục kề tay dao thước Thành Bạch, chàng vang bóng ác tà. (Bản dịch của Nguyễn Công Trứ) Nhận xét: a)            Về ngắt nhịp: 4-3 b)            Về phối thanh: -             Về luật: luật trắc vần bằng. -  Về niêm: câu 1-8; 2-3; 4-5; 6-7 niêm với nhau (tiếng thứ nhì) Ví dụ: Câu 6: Cô chu nhất hệ cố viên tâm   B < tái thượng (mặt đất) ba lãng >< (sóng rợn) >< phong vân (mây đùa) kiêm thiên dũng (lòng sông thẳm) >< tiếp địa âm (cửa ải xa). Hai câu luận (đối nhau):   Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ Cô chu nhất hệ cô" viên tâm Tùng cúc (khóm cúc) >< Cô chu (con thuyền) Lưỡng khai (tuôn thêm) >< nhất hệ (buộc chặt) Tha nhật lệ (dòng lệ cũ) >< cố viên tâm (mối tình nhà) - Hai câu kết (tóm tắt ý nghĩa cả bài) Hàn y xứ xứ thôi đao xích Bạch Đế thành cao cấp mộ châm. (Miêu tả hình ảnh một chiều thu cụ thể ở đất Quỳ Châu và bộc lộ tình cảm nhớ quê hương sâu nặng, tâm trạng buồn não nề của nhà thơ Đỗ Phủ khi sống ở nơi đất khách). Nguồn:

  • Bài văn hay thuyết mình về bưởi Phúc Trạch

    Trên các miền hoa trái nước ta, có bốn loại bưởi nổi tiếng: bưởi đoan hùng ở phú thọ, bưởi đỏ mê linh ở vĩnh phúc, bưởi long thành ở đồng nai và bưởi phúc trạch ở hà tĩnh. Người sành nhìn hình dáng quả đã có thể biết được bưởi vùng nào. Nếu đúng là bưởi phúc trạch thì quả không tròn, đỉnh quả không dô ra, dáng hơi dẹt ở đầu cuống và đầu núm. Vỏ anh ánh màu vàng mịn, không bị rỗ. Nâng trên lòng bàn tay, vỏ thấm vào da một cảm giác mát mẻ và thoang thoảng hương thơm. Chỉ dùng ngón tay trỏ ấn nhẹ vào vỏ, xung quanh nơi ấn màu vỏ sáng lên và li ti hiện ra một lớp tinh dầu mơ hồ thoảng mùi hương dìu dịu…

    Vỏ bưởi phúc trạch mỏng chứ không dày như nhiều loại bưởi khác. Cầm con dao sắc, gọt nhẹ, màu hồng đào trồi lên mịn màng như má cô gái dậy thì. Gọt sâu vào một chút nữa, cái màu hồng đào ấy càng đậm hơn, càng đằm thắm hơn. Cuối cùng, dí mũi dao lên đỉnh quả rạch dọc xuống múi bưởi hiện ra màu hồng quyến rũ. Tách ra từng múi, tép bưởi chen chúc nhau mọng lên đầy ắp hương vị hấp dẫn… Dĩ nhiên là vị của nó không cay the, không chua nhưng cũng không ngọt đậm, mà ngọt thanh. Càng ăn càng thích. Ăn nhiều không chán.

    Chẳng mấy ai dùng bưởi cho người ốm ăn, mà thường dùng cam. Ấy thế mà ở hà tĩnh, người ta cố mua cho được bưởi phúc trạch khi trong nhà có người ốm đau… Già nua tuổi tác, người mệt mỏi, miệng khô, được ăn múi bưởi phúc trạch cảm thấy tỉnh táo, dễ chịu… Trong kháng chiến chống pháp và chống mĩ, thương binh được ưu tiên dành phần bưởi. Có cô gái vượt núi hàng chục ki-lô-mét chỉ cốt mang cho được mấy quả bưởi đến một trạm quân y. Các anh bộ đội qua làng, nghỉ chân dưới gốc đa, mấy bà mẹ gánh nước chè xanh và mang bưởi ra tiếp. Vị ngọt thanh của bưởi làm tiêu tan nỗi mệt nhọc trên đường hành quân.

    Trước cách mạng tháng tám, loại quả này có đem bán ở hồng kông và theo việt kiều sang pa-ri được người pháp ưa thích. Năm 1938 trong một cuộc thi “hoa thơm quả ngọt”, bưởi phúc trạch dược tặng giải thưởng và kèm theo một số tiền thưởng. Ban giám khảo xếp vào hàng “quả ngon xứ đông dương”.

    Nguồn: