Ôn văn bài Viếng Lăng Bác – Viễn Phương

0
925
Sơ đồ tu duy viếng lăng bác

Sơ đồ tư duy

Sơ đồ tu duy viếng lăng bác

Phần 2. Phân tích văn bản

I. Tìm hiểu chung

  1. Tác giả: Viễn Phương (1928 – 2005), tên khai sinh là Phan Thanh Viễn, quê ở An Giang.

+ Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ông hoạt động ở Nam Bộ, là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Namthời kì chống Mỹ cứu nước.

+ Đề tài thơ: Thơ ông thường nhỏ nhẹ, giàu tình cảm, giàu chất mộng mơ ngay trong hoàn cảnh khốc liệt của chiến trường.

+ Tác phẩm tiêu biểu: Mắt sáng học trò (1970); Như mây mùa xuân (1978); Phù sa quê mẹ(1991).

     2. Tác phẩm

  • Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được viết vào tháng 4 năm 1976, một năm sau ngày giải phóng miền Nam, đất nước vừa được thống nhất vàcũng là khi lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa được khánh thành. (Mở rộng thêm: Tác giả là một người con của miền Nam, suốt ba mươi năm hoạt động và chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ xa xôi. Cũng như đồng bào và chiến sĩ miền Nam, nhà thơ mong mỏi được ra thăm Bác và chỉ đến lúc này, khi đất nước đã thốngnhất, ông mới có thể thực hiện được ước nguyện ấy. Tình cảm đối với Bác trở thành nguồn cảm hứng để ông sáng tác bài thơ này.)
  • Bố cục: 4 phần tương ứng với 4 khổ thơ:

+ Phần 1: Cảm xúc của tác giả trước không gian, cảnh vật bên ngoài lăng

+ Phần 2: Cảm xúc trước đoàn người vào lăng viếng Bác.

+ Phần 3: Cảm xúc khi vào lăng, nhìn thấy di hài Bác.

+Phần 4: Tâm trạng lưu luyến của nhà thơ khi rời xa lăng Bác.

  • ND chính: Bài thơ thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ và mọi người đối với Bác Hồ khi vào lăng viếng Bác.
  • NT đặc sắc: Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng: Ở đầu bài thơ là hình ảnh cây tre và kết thúc bài thơ cũng là hình ảnh cây tre => tạo được mạch liên kết cho bài thơ.

III. Đoạn 1.

  1. ND: Cảm xúc của tác giả khi đứng trước lăng Bác:

+ Tình cảm chân thành và giản dị của đồng bào miền Nam muốn nhắn gửi, nhờ Viễn Phương nói họ cùng bác.

+ Cảm  xúc dạt dào của tác giả khi đứng trước hàng tre bên lăng Bác. Hàng tre ấy khiến tác giả liên tưởng đến những đức tính quý báu của dân tộc Việt Nam ta.

      2. NT

  • Câu thơ thứ nhất:

+ Kiểu câu: trần thuật => như một lời thông báo về cuộc ghé thăm này của tác giả, từ đó gợi tả tâm trạng xúc động của tác giả.

+ Cách xưng hô “con” – “bác” => sự thân mật, gần gũi, ấm áp tình thương mà vẫn rất mực thành kính, thiêng liêng => Tác giả coi Bác như một người thân trong gia đình, không hề có sự xa cách nào giữa Bác Hồ và tác giả, không hề gợi cho người đọc cảm giác xa lạ như những cuộc trò chuyện của một người dân thường với một vị lãnh tụ của dân tộc.

+ Nói giảm nói tránh: “thăm” => giảm nhẹ nỗi đau thương mất mát – Bác Hồ còn sống mãi trong tâm tưởng của mọi người. Đồng thời gợi sự thân mật, gần gũi: Con về thăm cha – thăm người thân ruột thịt, thăm chỗ Bác nằm, thăm nơi Bác ở để thỏa lòng khát khao mong nhớ bấy lâu.

  • 3 câu thơ còn lại

+ Tác giả miêu tả hàng tre bằng các từ láy “bát ngát”, “xanh xanh” => gợi một không gian rộng và tươi mát, đầy sức sống.

+ Miêu tả hàng tre trong sương sớm => tác giả đã vẽ lên trước mắt người đọc một khung cảnh thật đẹp của buổi ban mai.

+ Thán từ “Ôi” cùng với dấu cảm thán => sự xúc động của tác giả khi đến bên lăng, ngắm nhìn những hàng tre xanh, hàng tre biểu tượng cho tinh hoa, cho đất nước, cho dân tộc Việt Nam, là nét đặc trưng riêng của dân tộc mình.

+ Tác giả miêu tả hàng tre không chỉ đơn thuần là tả thực mà còn là hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng cho những con người Việt Nam. Qua việc sử dụng thành ngữ “bão táp mưa sa” cùng với việc miêu tả những hàng tre xanh xanh đứng thẳng hàng, tác giả đã gợi cho người đọc đến sự kiên cường, bất khuất, sự hiên ngang của dân tộc Việt Nam.

+ “Bão táp mưa sa” chính là những khó khăn, gian khổ mà đất nước phải gánh chịu, nhất là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc.

+ “đứng thẳng hàng”  là tinh thần đoàn kết đấu tranh, chiến đấu anh hùng, không bao giờ khuất phục, tất cả vì độc lập tự do của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ.

*Mở rộng*  Từ hình ảnh hàng tre bát ngát trong sương quanh lăng Bác, nhà thơ đã suy nghĩ, liên tưởng và mở rộng khái quát thành một hình ảnh hàng tre mang ý nghĩa ẩn dụ, biểu tượng cho sức sống bền bỉ, kiên cường, bất khuất của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Dù gặp bão táp mưa sa – gặp những thăng trầm trong cuộc kháng chiến cứu nước và giữ nước, vẫn “đứng thẳng hàng”, vẫn đoàn kết đấu tranh, chiến đấu anh hùng, không bao giờ khuất phục.Hàng tre ấy như những đội quân danh dự cùng với những loài cây khác đại diện cho những con người ở mọi miền quê trên đất nước Việt Nam tụ họp về đây sum vầy với Bác, trò chuyện và bảo vệ giấc ngủ cho Người. Nơi Bác nghỉ vẫn luôn xanh mát bóng tre xanh.

III. Đoạn 2

  1. ND: cảm xúc của tác giả khi theo dòng người vào lăng viếng Bác.
  2. NT: sử dụng các cặp câu sóng đôi vừa mang nghĩa tả thực, vừa mang nghĩa ẩn dụ tượng trưng
  3. 2 câu thơ đầu:
  • ND: Vừa tả thực hình ảnh mặt trời của tự nhiên, vừa ẩn dụ cho hình ảnh của Bác Hồ kính yêu, tác giả đã thể hiện được sự tôn kính của mình đối với Bác, qua đó, thể hiện lòng biết ơn và sự khâm phục đối với Bác Hồ kính yêu.
  • NT:

+ Trạng từ chỉ thời gian: “ngày ngày” => diễn tả sự bất biến của tự nhiên và góp phần vĩnh viễn hóa, bất tử hóa hình ảnh Bác Hồ trong lòng mọi người nói chung và giữa thiên nhiên vũ trụ nói chung.

+ Nhân hóa: “đi qua”, “thấy” => Mặt trời của thiên nhiên cũng phải ngưỡng mộ trước tài năng và sự đức độ của Bác Hồ.

+ Biện pháp ẩn dụ tượng trưng, ví Bác giống như mặt trời của đất nước dân tộc. Bác cũng là nguồn sáng, nguồn sức mạnh của dân tộc Việt Nam, Bác soi đường dẫn lối cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do, thống nhất đất nước. Bác đã cùng nhân dân vượt qua trăm ngàn gian khổ, hi sinh để có được chiến thắng vinh quang . “Mặt trời” – Bác Hồ tỏa hơi ấm tình thương bao la trong lòng mỗi con người Việt Nam.

+ Tính từ miêu tả mạnh: “rất đỏ” => diễn tả công lao của Bác đối  với dân tộc Việt Nam ta. Công lao ấy lớn lao và thật vĩ đại tựa như ánh sáng đỏ của mặt trời thiên nhiên vĩnh hằng. Ví Bác với mặt trời, tác giả còn muốn gợi ra sự kì vĩ, sự bất tử, vĩnh hằng.

4. 2 câu thơ sau:

  • ND: Cảm xúc của tác giả khi nhìn thấy dòng người vào lăng viếng Bác. Dòng người ấy như kết thành một tràng hoa để dâng lên Bác Hồ kính yêu.
  • NT:

+ Một lần nữa, tác giả sử dụng trạng từ “ngày ngày” (điệp từ) => nhấn mạnh sự vĩnh hằng, trường tồn của Bác trong lòng mỗi người dân Việt.

+ Ẩn dụ: “dòng người đi trong thương nhớ” =>  Những dòng người nặng trĩu nhớ thương từ khắp mọi miền đất nước đã về đây xếp hàng, lặng lẽ theo nhau vào lăng viếng Bác.

+ So sánh ngầm “dòng người” – “tràng hoa” => vừa tả thực vừa tượng trưng:

– Tả thực: Tác giả nhìn dòng người nối tiếp nhau vào lăng rông như những tràng hoa.

– Tượng trưng: Đoàn người nối tiếp nhau thành một tràng hoa dài vô tận để dâng lên vị lãnh tụ kính yêu, như để đền đáp những công lao vĩ đại mà Bác đã đóng góp cho dân tộc Việt Nam => Đây là một hình ảnh rất đẹp, thể hiện được sự biết ơn của mọi người đối với Bác.

+ Hình ảnh “tràng hoa” => đoàn người vào lăng viếng Bác như những bông hoa tươi thắm, những bông hoa nở rực rỡ dưới ánh sáng của Bác Hồ.

+ Hoán dụ “bảy mươi chín mùa xuân” => bảy mươi chín năm cuộc đời của Người. Cuộc đời Bác đẹp như những mùa xuân bởi Bác đã sống và cống hiến hết mình cho sự nghiệp của đất nước.

Nguồn: Học Sinh Blog

NO COMMENTS