Xuân Hải Ml

Xuân Hải Ml

Thuyết minh về một nhà văn mà em yêu mến

Bài làm

NAM CAO (1915 – 1951)

I.        Vài nét về cuộc đời và con người

Nam Cao tên khai sinh là Trần Hữu Tri. Ông sinh năm 1915, trong một gia đình nông dân tại làng Đại Hoàng, thuộc tống Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (nay thuộc xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam). Làng Đại Hoàng nằm trong vùng đồng chiêm trũng, nông dân quanh năm nghèo đói, lại bị bọn cường hào ức hiếp, đục khoét tàn tệ.

Nam Cao là con người duy nhất trong gia đình khá đông con – được ăn học tử tế. Học xong bậc thành chung, Nam Cao vào Sài Gòn giúp việc cho một hiệu may. Thời kỳ này, ông bắt đầu sáng tác và mơ ước được đi xa, mở mang kiến thức, trau dồi tài năng, xây dựng một sự nghiệp văn học có ích. Nhưng rồi vì ốm yếu, Nam Cao lại trở về quê và thất nghiệp. Sau ông lên Hà Nội, dạy học ở một trường tiểu học tư thục, vùng Bưởi, ngoại ô. Nhưng cuộc đời “giáo khổ trường tư” đó cũng không yên: quân Nhật vào Đông Dương, trường của ông phải đóng cửa để làm chuồng ngựa cho lính Nhật. Nhà văn- lại thất nghiệp, sông lay lắt bằng nghề viết văn và làm gia sư, trong khi gia đình ở quê đang ngày càng khốn khó. Năm 1943, Nam Cao tham gia

Hội văn hóa cứu quốc (lu Dáng Cộng sản tồ chức và lãnh đạo. Bị khủng bô’ gắt gao, ông vồ hán làng quê rồi tham gia cướp chính quyền ở địa phương và được bầu làm chủ tịch đầu tiên ở xã. Nhưng ngay sau đó ông được điều động lên công tác ở Hội văn hóa cứu quốc tại 115 Nội. Ông đã đi cùng một đoàn quân Nam tiến vào vùng Nam Trung Bộ đang kháng chiến năm 1946. Kháng chiến toàn quốc bùng nô (12 – 1946), Nam Cao vồ làm công tác tuyên truyền ở tỉnh Hà Nam; từ 1947, ông lên công tác (V ngành tuyên truyền, văn nghệ Việt Bắc, chủ yếu viết các báo Cứu quốc, Văn nghệ. Năm 1950, Nam Cao đã tham gia chiến (lịch Biên giới. Truyện ngắn Dôi mắt (1948), nhật kí Ở rừng (1948), tạp kí sự Chuyện biên giới (1950) của Nam Cao đều là những sáng tác dặc sắc, tiêu biểu của truyện, kí kháng chiến lúc bấy giờ. Tháng II 1951, trên đường vào công tác vùng sau lưng địch thuộc Liên khu III, Nam Cao đã bị địch phục kích bắt được và bắn chết gần Hoàng Đan (thuộc tinh Ninh Bình khi đó). Nhà văn ngã xuống giữa lúc ông đang bước vào thời kỳ “chín” mới về tư tưởng và tài năng, hứa hẹn những sáng tác có tầm vóc về thời đại mới.

Trước cách mạng, Nam Cao thường mang nặng tâm sự u uất, bất đắc chí. Đó không chỉ là tâm sự người nghệ sĩ “Tài cao, phận thấp, chí khí uất” (thơ Tản Đà), mà còn là nỗi bi phẫn sâu xa của người trí thức giàu tâm huyết trước cái xã hội bóp nghẹt sự sống con người khi đó. Song Nam Cao không vì bất mãn cá nhân mà trở nên khinh bạc, trái lại ông có một tấm lòng thật đôn hậu, chan chứa yêu thương. Đặc biệt, sự gắn bó ân tình sâu nặng với bà con nông dân nghèo khổ’ ruột thịt ở quê hương là nét nội bật ở Nam Cao. Chính tình cảm yêu thương gắn bó đó là một sức mạnh bên trong của nhà văn, giúp ông vượt qua những cám dỗ của lối sống thoát li hưởng lạc, tự nguyện tìm đến và trung thành với con đường nghệ thuật hiện thực “vị nhân sinh”.

Bình sinh, Nam Cao thường day dứt, hối hận vì những sai lầm – có khi chi trong ý nghĩ – của mình. Người trí thức ” trung thực vô ngần” (lời Tô Hoài) ấy luôn nghiêm khắc tự đấu tranh bản thân để vượt mình, cố thoát khỏi lối sống tầm thường, nhỏ nhen, khao khát hướng tới “tâm hồn trong sạch và mơ tới những cảnh sống, những con người thật đẹp” (Nhật kí Nam Cao, ghi ngày 31 – 8 – 1950). Có

thế’ nói, giá trị to lớn của sự nghiệp văn học của Nam Cao gắn liền với cuộc đấu tranh bản thân trung thực, dũng cảm trong suốt cuộc đời cầm bút của nhà văn.

Cuộc đời lao động nghệ thuật vì lý tưởng nhân đạo, lý tưởng cách mạng và sự hy sinh anh dũng của Nam Cao mãi mãi là tấm gương cao đẹp của một nhà văn – chiến sĩ.

II. Quan điểm nghệ thuật

Trong cuộc đời cầm bút, Nam Cao luôn suy nghĩ về “sống và viết”. Ban đầu, ông chịu ảnh hưởng sâu của phong trào lãng mạn đương thời, đã sáng tác những bài thơ, truyện tình lâm li dễ dãi. Nhưng ông đã dần dần nhận ra rằng thứ văn chương đó rất xa lạ đối với đời sống lầm than của đông đảo quần chúng nghèo khổ xung quanh. Và ông đã đoạn tuyệt với nó để tìm đến con đường nghệ thuật hiện thực “vị nhân sinh”. Trong truyện ngắn Trăng sáng (1943), được coi là một tuyên ngôn nghệ thuật đanh thép, cảm động, ông viết: “Chao ôi! Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khố kia, thoát ra từ những kiếp lầm than…”. Theo Nam Cao, người cầm bút không được “trốn tránh” sự thực, mà hãy “cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời…”.

Lên án văn chương thoát li, Nam Cao không tán thành loại’ sáng tác “chỉ tả được cái bề ngoài của xã hội”. Trong truyện ngắn Đời thừa (1943), Nam Cao cho rằng một tác phẩm “thật giá trị” thì phải có nội dung nhân đạo sâu sắc: “Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho người gần người hơn”. Đồng thời, nhà văn đòi hỏi cao sự tìm tòi sáng tạo trong nghề văn và lương tâm người cầm bút. Ông viết: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có” (Đời thừa). Ông coi sự cẩu thả trong nghề văn chẳng những là “bất lương” mà còn là “đê tiện”.

Sau cách mạng, Nam Cao say mê, tận tuy trong mọi công tác phục vụ kháng chiến được giao, không nề hà lớn nhỏ, với ý nghĩa dứt

khoát:lợi ích cách mạng, lợi íchdân tộc là trên hết. Khi thựcdân Pháp quay trớ lại xâmlăng Nam Hộ, nhà văn bứt rứt ‘muốn vứt cả bút đế đi cầm súng” (bút lu Dường vô Nam). Bước vào kháng chiên, Nam Cao tự nhủ “sống MU hay viết” và lao mình vào các công tác phục vụ kháng chim Tuy ván ấp ủ hoài bão sáng tác nhưng nhà văn chân thành nghĩ rằng “góp sức vào công việc không nghệ thuật lúc này chính là đẻ sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn” (nhật kí ơ rừng, 1948). Đó là thái độ đúng đắn, đẹp đẽ nhất của một nghệ sĩ chân chính khi đó.

III. Sự nghiệp văn học

Nam Cao có sáng tác đăng báo từ 1936, nhưng sự nghiệp văn học cùa ông chỉ thật sự bắt đầu từ truyện ngắn Chí Phèo (1941), sáng tác của Nam Cao trước cách mạng tập trung vào hai đề tài chính: cuộc sống người trí thức tiếu tư sản nghèo và cuộc sống người nông dân ở quê hương.

Ở dó tài người trí thức tiểu tư sản, đáng chú ý là các truyện ngắn: Những truyện không muốn viết, Trăng sáng, Mua nhà, Truyện tình, Quên điều độ, Cười, Nước mắt, Đời thừa… và tiểu thuyết Sống mòn (1944). Trong những sáng tác này, Nam Cao đã miêu tả hết sức chân thực tình cảnh nghèo khổ, dở sống dở chết của những người nghèo, những “giáo khổ trưởng tư'”, học sinh thất nghiệp… Nhà văn đặc biệt đi sâu vào những bi kịch tâm hồn của họ, qua đó, đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn, vượt khỏi phạm vi của đề tài. Đó là tấn bi kịch dai dẳng, thầm lặng mà đau đớn của người trí thức có ý thức sâu sắc về giá trị sự sống và nhân phẩm, có hoài bão lớn về một sự nghiệp tinh thần, nhưng lại bị gánh nặng về cơm áo và hoàn cảnh xã hội ngột ngạt làm cho “chết mòn”, phải sống cuộc “đời thừa”. Những tác phẩm đó đã phê phán sâu sắc xã hội phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con người, đồng thời, đã thế hiện sự tự đấu tranh bên trong của người trí thức tiểu tư sản trung thực cố vươn tới một cuộc sống đẹp đẽ, thực sự có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con người.

Nam Cao để lại chừng hai chục truyện ngắn viết về cuộc sống tăm tối thê thảm của người nông dân đương thời. Những truyện đáng chú ý là: Chí Phèo, Trẻ con không được ăn thịt chó, Mua danh, Tu cách mõ, Điếu văn, Một bữa no, Lão Hạc, Một đám cưới, Lang Rận, Dì Hảo, Nửa đèm… ở đề tài nông dân, Nam Cao thường quan tâm tới những hạng cố cùng, những số phận hẩm hiu, bị ức hiếp nhiều nhất. Họ càng hiền lành, nhịn nhục thì càng bị chà đạp phũ phàng. Ông đặc biệt đi sâu vào những trường hợp con người bị lăng nhục một cách độc ác, bất công, mà xét đến cùng, chẳng qua chỉ vì họ nghèo đói, khốn khổ. Tuy giọng văn lắm khi lạnh lùng, nhưng kỳ thực, Nam Cao đã dứt khoát bênh vực quyền sống và nhân phẩm những con người bất hạnh, bị xã hội đẩy vào tình cảnh nhục nhã đó (Chí Phèo, Một bữa no, Tư cách mõ, Lang Rận..,). Viết về những người nông dân bị lưu manh hóa, nhà văn đã kết án sâu sắc cái xã hội tàn bạo tàn phá cả thế xác và linh hồn người nông dân lao’ động, đồng thời, ông vẫn phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện, đẹp đẽ của họ, ngay trong khi họ bị vùi dập tới mất cả hình người, tính người. Nhà văn đã đặt ra vấn đề phải xác định “đôi mắt” đúng đắn đế nhìn nhận về quần chúng. Ông luôn ý thức “cố mà tìm hiểu” cái “bản tính tốt” của người nông dân nghèo thường bị “che lấp”, vùi dập. Trong nhiều tác phẩm, Nam Cao không những đã vạch ra nỗi khố cùng cực của người nông dân mà còn thể hiện cảm động bản chất đẹp đẽ, cao quý trong tâm hồn của họ (Lão Hạc, Một đám cưới, Dì Hảo…).

Có thể nói, dù viết về người trí thức nghèo hay về người nông dân cùng khổ, diều làm cho Nam Cao day dứt tới đau đớn là tình trạng con người bị xói mòn về nhân phẩm, thậm chí bị hủy diệt cả nhân tính, trong cái xã hội phi nhân đạo đương thời.

Cũng như các nhà văn tiểu tư sản khác chưa nắm được chân lý cách mạng, Nam Cao không thấy được khả năng đổi đời của những người khốn cùng và triển vọng của xã hội. Song trong truyện ngắn điếu văn (1944), ông đã viết những dòng dự . báo sôi nổi: “Sự đời không thể cứ mù mịt mãi thế này đâu. Tương lai phải sáng sủa hơn. Một rạng đông đã báo rồi!”. Đó là lời chào đón thắm thiết tia sáng rạng đông đang báo hiệu ở chân trời lúc bấy giờ.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Nam Cao lao mình vào mọi công tác cách mạng và kháng chiến. Truyện ngắn Đôi mắt (1948) là một thành công xuất sắc của văn nghệ kháng chiến khi đó. Nhìn vào

hình ảnh một trí thức cũ đi tản cư theo kháng chiến nhưng giữ nguyên lôi sống trưởng giả, nhởn nho’ và “đôi mắt” khinh bạc tệ hại đối với quần chúng – hình ảnh thật lạc lõng giữa cuộc sống kháng chiến lành mạnh sôi nổi lúc bấy Giờ – người trí thức đi theo cách mạng càng thêm dứt khoát từ bỏ con người cũ, lôi sông cũ và quyết tâm “cách mạng hóa tư tưởng, quần chúng hóa sinh hoạt”, trở thành những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa. Nhật kí ơ rừng (1948) viết trong thời kỳ nhà văn công tác ở vùng sâu Bắc Cạn và tập kí sự Chuyện biên giới (1950) viết khi ông đi chiến dịch Cao – Lạng, đều là những sáng tác giá trị của nền văn xuôi mới còn non trẻ khi đó. Nhà văn hi sinh giữa lúc tư tưởng và tài năng đang độ phát triển nhất trong thời đại mới, đầy hứa hẹn.

Ngòi bút Nam Cao vừa tỉnh táo, sắc lạnh, vừa nặng trĩu suy nghĩ và đằm thắm yêu thương. Văn Nam Cao vừa hết sức chân thực – ông coi sự thực là trên hết, không gì ngăn được nhà văn đến với sự thực – vừa thấm đượm ý vị triết lý trữ tình. Ông có sở trường diễn tả, phân tích tâm lý con người. Ngôn ngữ Nam Cao sống động, uyển chuyển, tinh tế, rất gần với lời ăn tiếng nói quần chúng. Với một tài năng lớn, giàu sức sáng tạo, Nam Cao đã góp phần quan trọng vào việc cách tân nền văn xuôi Việt Nam theo hướng hiện đại hóa.

Nguồn:

Thuyết mình về Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bài Làm:

… Lăng gồm ba lớp với chiều cao 21, 6 mét. Lớp dưới tạo dáng bậc thềm tam cấp, cấp dưới của bậc thềm là lễ đài dành cho Đoàn Chủ tịch các cuộc mít tinh tổ chức ở quảng trường. Lớp giữa là kết cấu trung tâm của lăng, gồm phòng thi hài và những hành lang, những cầu thang lên xuống. Quanh bốn mặt là những hàng cột vuông bằng đá hoa cương, nhìn từ mặt nào cũng thấy năm khoảng đều nhau gỢi nhớ ngôi nhà năm gian quen thuộc của mọi miền quê Việt Nam. Lớp trên cùng là mái lăng hình tam cấp. cấp dưới vát lên thanh thoát, hai cấp trên thẳng nét tạo mái bằng khép lại không gian đỉnh lăng, ở mặt chính lăng có dòng chữ:

Bước vào phòng ngoài, trước mặt ta óng ánh trên tường đá hoa cương màu đỏ sẫm hàng chữ vàng ‘Không có gì quí hơn độc lập tự do’. Ở dưới là dòng chữ kí quen thuộc của Bác. Lên cầu thang là tới nơi Bác yên nghỉ. Trên nền tường ốp đá trắng gắn nổi hình cờ Đảng và cờ Tổ quốc. Đài hoa – nơi đặt hòm kính thi hài Bác – được ghép bằng đá huyền đen lấp lánh. Cách bố trí lối đi từ ba phía cho phép nhiều người được vào viếng Bác cùng lúc. Qua lớp kính trong suốt, Bác như vừa ngả lưng, chợp mắt trong chốc lát. vẫn bộ quần áo ka ki bạc màu, dưới chân Bác vẫn là đôi dép cao su giản dị của Người.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng của lòng tôn kính và biết ơn vô hạn của cả dân tộc đối với Người. Đây còn là một công trình kiến trúc có ý nghĩa chính trị và nghệ thuật lớn lao, thể hiện trí tuệ, tình cảm, tài ba và sức lực của các tầng lớp nhân dân ta. cả thiên nhiên nữa, dường như có ý dành cho ta nhiều loại đá quý nhất để xây lăng. Đá huyền đẹp Vĩnh Linh. Đá xanh màu mơ Sơn La. Đá vàng nâu đất Nghệ. Đá màu đỏ cờ xứ Thanh. Cao Bằng gửi về đá ngọc mận chín núi Piên để tạc dồng chữ Chủ tịch Hồ Chí Minh khảm trên mái lăng. Tuyên Quang cũng gửi về loại đá sỏi quý: nghìn vạn hòn như một, tròn và đều tăm tắp như hạt nhãn… Miền Nam, khi đó đang giữa cuộc chiến tranh, đã đánh vào tận sát căn cứ địch để lấy đá hoa gâm, đá mã não rồi do chính đường mòn Hồ Chí Minh gửi ra Bắc góp phần xây ngôi nhà vĩnh hằng của Người.

Chuyện gỗ cũng phong phú không kém chuyện đá. Chuyến xe đầu tiên chở gỗ quý miền Nam đến Hà Nội vào mùa xuân 1974. Gỗ lớn mấy sải tay ôm. Gỗ đinh lõi vàng vân trắng. Gỗ mun đen như than đá. Gỗ hương tía vần như ráng đỏ trời chiều. Gỗ nu có vân xoắn như lượn tơ tằm. Rồi còn gỗ của các rừng đại ngàn miền Bắc. Gỗ, đá ấy qua bàn tay và trí tuệ của công nhân, nghệ nhân, kĩ sư Việt Nam và cả chuyên gia Liên Xô nữa, đã trở thành lăng Bác Hồ, niềm tự hào chung của toàn thể dân tộc Việt Nam.

Cũng cần nói đến cây xanh quanh lăng. Hai cây đại ở hai bên cửa chính, dáng đẹp cổ kính, đơm hoa cánh trắng lòng vàng, hương ngát. Chạy dọc theo hai lễ đài phụ là hai dãy vạn tuế thân thẳng, lá tựa ô che trên ngọn. Đại và vạn tuế tượng trưng cho sự vĩnh hằng. Khép lại không gian hai phía lễ đài là hai bức lũy tre, trúc, luồng, mai ken dày, gợi nhớ tới xóm làng thân thuộc.

Sau lăng là những bồn hoa, những khóm cây tụ hội từ bốn phương đất nước. Hoa ban Tây Bắc, mai tứ quý, nguyệt quế, mai vàng của Nam Bộ, bưởi Biên Hòa, dừa Bình Định, quế Trà Mi, đào Nhật Tân, cả cây đào chiết từ gốc đào Tô Hiệu ở nhà tù Sơn La, hồng Bạch Hạc, táo Thiện Phiên và các loại hoa dâng hương tinh khiết như nhài, mộc, ngâu, dạ hương, ngọc lan v. v… với Việt Nam, lăng Bác Hồ là đài tưởng niệm lớn nhất của thế kỉ XX này

Nguồn:

Thuyết minh về sự giản dị trong bài thơ Gánh nước đêm

Bài làm

Trong những năm hai mươi của thế kỷ XX, nền văn học Việt Nam xuất hiện nhiều nhà thơ, nhà văn giàu lòng yêu nước như Hồ

Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn, Tản Đà, Nguyễn Bá Học, Á Nam Trần Tuấn Khải,… Cùng với Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải đã mạnh dạn đưa các điệu hát dân gian vào tho’ để diễn tả tâm sự những người yêu nước lo đời kín đáo mà thiết tha. Bài thơ Gánh nước đêm của Trần Tuấn Khải được in trong tập Duyên nợ phù sinh, quyển I – năm 1921 là một bài thơ hay được truyền tụng rộng rãi. Tạp chí Nam Phong tháng 05 – 1921, có bài viết nhận xét nét đặc sắc của bài thơ như sau:

“Bài thơ Gánh nước đèm lời văn giản dị mà ý tứ sâu xa biết bao nhiều..”.

Chúng ta hãy đọc lại bài thơ này:

GÁNH NƯỚC ĐÊM

Em bước chân ra,

Con đường xa tít,

Non sông mù mịt,

Bên vai kĩu kịt,

Nặng gánh em trở về,

Ngoảnh cổ trông sông rộng trời khuya…

Vì chưng nước cạn, nặng nể em dám kêu ai!

Nghĩ tiếc công cho bà Nữ Oa đội đá vá trời,

Con dã tràng lấp bể biết đời nào xong?

Nước non gánh nặng,

Cái đức ông chồng hay hỡi, có hay?

Em trở vai này…!.

Chỉ cần đọc qua một lần, độc giả sẽ nhận ra bài thơ có tính nhạc. Những thanh bằng trắc khi trầm, khi bổng như những làn điệu dân ca ngọt ngào êm ái. Bởi thế, trong tập thơ Duyên nợ phù sinh, bài thơ được xếp vào mục “Câu hát Vặt” – những điệu hát dân gian rất phổ biến trong tầng lớp bình dân. Nhà thơ Xuân Diệu cho rằng bài thơ viết theo điệu “bồng mạc vỉa sang sa mạc” có nguồn gốc từ những làn điệu dân ca ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, “phóng túng về cấu trúc, sáng tạo về âm thanh”, là dạng biến thể của thơ lục bát, là bài thơ “hay nhất, trứ danh của Á Nam”.

Bài thơ nói lên tâm sự của người phụ nữ gánh nước giữa đêm

khuya thanh vắng, đường sá xa xôi, đòn gánh nặng oằn trên đôi vai bé nhỏ. Hình ảnh người phụ nữ càng lúc càng khuất dần trong màn đêm bủa giăng thật cảm động.

Nhưng chỉ hiểu nội dung bài thơ một cách “giản dị” như thế thì cái hay của bài thơ sẽ giảm đi nhiều lắm.

Thật ra, bài thơ này có hai tầng nghĩa: nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn. Nghĩa hàm ẩn chính là tâm sự muốn gửi gắm của Trần Tuấn Khải. Muốn hiểu được cái ý tứ sâu xa ấy, chúng ta cần tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử nước Việt Nam đương thời và tác động của nó đến văn học.

Như trên đã nói, năm 1921 tập thơ được in nhưng Trần Tuấn Khải đã sáng tác bài thơ này năm 1917. Trước đó khởi nghĩa của binh lính Huế (1916) do Thái Phiên và Trần Cao Vân cầm đầu đã thất bại. Vua Duy Tân bị giặc bắt và bị đày ra đảo Rê-uy-ni-ông ở châu Phi. Thái Phiên và Trần Cao Vân bị xử tử. Ngay năm 1917, cuộc khởi nghĩa của binh lính Thái Nguyên do Trịnh Văn cấn (Đội Cấn) cầm đầu nổ ra đêm 30, rạng sáng ngày 31 – 08 – 1917 thất bại. Trịnh Văn Cấn tự sát. Còn Nguyễn Ái Quốc, đang bôn ba khắp châu Phi, Mỹ, Âu để tìm đường giải phóng cho dân tộc. Đến tháng 12 – 1917, Nguyễn Ái Quốc đã trở lại Pháp.

Xét về đặc điểm chung của Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng Tháng Tám – 1945, chúng ta thấy Trần Tuấn Khải thuộc nhóm văn học công khai, hợp pháp nhưng vẫn chịu sự kiểm tra giám sát rất gắt gao của bọn thực dân Pháp. Do đó, nhà thơ, nhà văn nào muốn nói lên lòng yêu nước của mình cũng đều phải diễn đạt trong thơ văn bằng những lời lẽ xa xôi, bóng gió.

Như vậy hình ảnh “nước” trong bài Gánh nước đèm ngoài ý nghĩa là “nước” còn có ý nghĩa là “đất nước”. Từ “gánh” không chỉ là một động tác cụ thể mà còn là “gánh vác”, đảm đương, … Trong bài thơ, cô gái “Ngoảnh cổ trông sông rộng trời khuya..” chính là trông chờ người tài giỏi ra gánh vác việc nước. Nhưng tâm trạng cô buồn bã, chua xót:

“Nghĩ tiếc công cho bà Nữ Oa đội đá vá trời,

Con dã tràng lấp bể biết đời nào xong?”.

Theo thần thoại Trung Quốc, Nữ Oa là một nữ thần khổng lồ, đã làm một chuyện hết sức phi thường là đội đá vá trời. Còn “dã tràng” là loài động vật giáp xác nhỏ giống như cua, sống ở bãi biển, thường đào lỗ rê cát thành những viên tròn nhỏ nhưng nước triều lên lại xoá sạch. Hình ảnh ”Nữ Oà’ và “con dã tràng” đã nói lên sự thất vọng chán chường của cô gái trước thời cuộc. Phải chăng các cuộc khởi nghĩa cứu nước của binh lính chìm trong biển máu đã làm cô bi quan? Phải chăng sự khủng hoảng về đường lối lãnh đạo đã khiến lòng cô gái dao động, thiếu tự tin?

Có thể nói rằng, bằng hình ảnh ẩn dụ, Trần Tuấn Khải đã kí thác tâm trạng của mình qua nỗi lòng của cô gái gánh nước đêm. Cái nhìn của nhà thơ về vận mệnh đất nước có phần tiêu cực. Tuy nhiên, lòng yêu nước của nhà thơ vẫn tràn đầy. Nhà thơ kêu gọi mọi người dù “nước non gánh nặng đến mấy” vẫn phải tiếp tục “gánh vác” chứ không được bỏ cuộc giữa đàng.

Tóm lại, càng hiểu được “ý tứ sâu xà’ của bài thơ Gánh nước đêm, chúng ta càng yêu quý thơ văn yêu nước của Á Nam Trần Tuấn Khải nhiều thêm. Chúng ta hoàn toàn chia sẻ lời nhận định của tạp chí Nam Phong về tập thơ Duyên nợ phù sinh cũng như bài này: “Túng sử cả tập thơ chỉ được có mệt bài này củng đáng khen, huống chi còn nhiều bài hay nữa”. Và chúng ta hãy nhiệt liệt ủng hộ quan điểm sáng tác văn chương cao đẹp của Á Nam Trần Tuấn Khải:

“Đời không duyên nợ thà không sống Văn có non sông mới có hồn”.

Nguồn:

Thuyết minh về tác phẩm Số Đỏ dựa vào nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng

BÀI LÀM

Lịch sử văn học Việt Nam chưa có một.tiểu thuyết nào gây được một phản ứng xã hội kịch liệt như tiểu thyết Số đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng. Số đỏ xuất hiện đột ngột giữa làng văn như một tiếng sét xé trời mà thanh âm của nó chắc chắn sẽ còn vang vọng mãi. Xuân Tóc Đỏ (nhân vật chính trong tác phẩm) trở thành một nhân vật điển hình trong số rất ít các nhân vật điển hình của văn học Việt Nam. Với Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã trở thành đại diện xuất sắc bậc nhất của dòng văn học hiện thực phê phán thời kì 1930 – 1945 ở Việt Nam. Thành công của tác phẩm trước hết là bởi một nghệ thuật trào phúng sắc bén bậc thầy của nhà văn mà qua đó xã hội Việt Nam đương thời hiện lên với dầy đủ những tàn tật, dị dạng, những tiêu cực, tệ nạn. Chương cuối cùng của tác phẩm Xuân Tóc Đỏ cứu quốc tuy chưa là chương hay nhất của tác phẩm nhưng lại là chương điển hình nhất cho hiện thực xã hội lố lăng, bịp bợm đương thời.

Chương truyện là bước phát triển cao nhất cho cái nhà văn gọi là “sô đỏ” của thằng Xuân. Từ một tên ma cà bông hạn bét ở đầu tác phẩm giờ đây chóng vánh trở thành một vĩ nhân đầy hào quang chói lọi. Một sự thăng tiến đến chóng mặt, tưởng như đầy rẫy sự vô lí nhưng đặt trong hoàn cảnh xã hội lúc ấy lại có thể xảy ra được. Suy cho cùng, cái “Sô đỏ” của thằng Xuân không chỉ hoàn toàn là cái may do khách quan (mà cụ thể là cái xã hội thượng lưu đểu giả đương thời) đưa lại, mà nó bắt nguồn từ bản chất mất dạy, vô giáo dục, vô văn hóa, xỏ lá đểu cáng, háo danh háo sắc của y. Nói cách khác cái bản chất của thằng Xuân chính là điều kiện cần và hoàn cảnh xã hội là điều kiện đủ để cái “sô đỏ” của y có thổ phát triển rực rỡ huy hoàng, đạt đến giá trị cực đại của nó. Trong chương truyện cuối cùng của tác phẩm, Xuân Tóc Đỏ đã đáp ứng một cách xuât sắc đầy đủ những yêu cầu mà xã hội đương thời đặt ra đê bước tới danh hiệu cao quý “vĩ nhân”, “anh hùng cứu quốc”. Có thể nói Xuân Tóc Đỏ là kết tinh, là điểm hội tụ tập trung của mọi thói tật, mọi tệ nạn xã hội. Nhưng mỉa mai thay, chính sự hội tụ bỉ ối ấy lại đưa nó đến đỉnh cao danh vọng. Xuân Tóc Đỏ là con người của tệ nạn nhưng cũng lại là con người của hào quang. Suy cho cùng cái chất trào lộng của ngòi bút Vũ Trọng Phụng phát khởi từ đây, từ một nghịch lí mà hợp lí, từ một sự phi lí mà có thật. Đó là cả một sự đối chọi đầy chua chát mà chì có ngòi bút hiện thực của Vũ Trọng Phụng mới vạch ra trần trụi. Cứ như những tình tiết xảy ra trong tác phẩm, đặc biệt là ở chương cuối, người đời có thể rút ra một quy luật tiến thân lạ lùng nhất trong đời, chỉ có thể xảy ra ở cái xã hội thời ấy mà thôi, quy luật ấy là càng bịp bợm. Càng vô văn hóa, càng xổ lá ba que, càng dâm loạn thì cơ hội tiến thân càng rộng mở.

Nhìn lại con đường tiến thân của Xuân, ta thấy rồ hơn điều đó. Dầu tiên y chỉ là một đứa trẻ mồ côi và mất dạy, hư hỏng, rồi một tên ma cà bông hạng bét, cơm thừa canh cặn, là chạy cờ rạp hát, bán thuôc tây đểu trên tàu xe, tiếp đèn là thằng nhặt banh trên sân quần vợt. Sau một “tai nạn nghề nghiệp” bệnh hoạn và trở nên thất nghiệp, có ai ngờ rằng cái số đỏ của y bắt đầu “liên tục phát triển” kê từ đây. Do chi tiết biêu hiện tính dâm đãng của y (cụ thể là nhìn trộm phụ nữ thay quần áo – một thói quen cố hữu, một đặc tính xấu xa ngay từ nhỏ của y) mà y lọt vào “mắt xanh” của mụ me Tây bệnh hoạn, rửng mỡ có cái tên là bà Phó Đoan. Từ đó con đường công danh của y phất lên như diều gặp gió bởi y đã bước vào vòng quay của xã hội thượng lưu. Đầu tiên người ta gọi y là sinh viên trường thuốc vì đã có công giết chết một lão già trăm ngàn lần đáng chết. Tiếp sau đó người ta còn gán cho y những cái tên nghe thật sướng tai nào là nhà cải cách xã hội, nào là giáo sư quần vợt và hàng chục vị hàm cao cấp khác trước khi đến đích cuối cùng là một vĩ nhân,

một anh hùng cứu quốc. Một con người với tài năng hiếm có và một cách vô ý thức, từ chỗ là công cụ cho người khác, cho xã hội lợi dụng dần dần với bước của “chó sói gửi thân”, y đã lợi dụng trở lại, dùng xã hội làm công cụ tiến thân một cách đầy toan tính.

Có thể xem mỗi chương trong Số đỏ là một màn sân khâu mà ở đó các xung đột diễn ra đầy kịch tính. Nếu như ở các chương trước chỉ là những màn kịch vi mô với các mâu thuẫn diễn ra trong gia đình cụ cốHồng, một tập hợp các thành viên đầy khập khiễng và thằng Xuân thì chương cuối này là một màn kịch mang tầm vĩ mô, một màn kịch “bách khoa toàn thư” về xã hội Việt Nam đương thời, một màn đại hài kịch tạp-phê-lù huy động tôi đa mọi nhân vật vào các vai diễn. Đó là từ vua ta tới vua Xiêm, từ quan thông sứ tới quan toàn quyền, từ các ông Tây bà đầm cho tới các thượng lưu trí thức, từ cái con mẹ me Tây góa phụ cho chí mấy ông thầy chùa, từ các ông thầy tướng số tới các chủ khách sạn, từ các ông chồng bị cắm sừng cho tới các cô gái tân thời quyết giữ chữ trinh tiết với hai người trở lên… Tất cả chừng ấy “nhân vật” lộn xộn, bừa bãi đều được lôi sềnh sệch vào một màn hí trường hài hước nhốn nháo, lố bịch, kệch cỡm, tạp nham hết sức. Kính thưa các loại phế phẩm, kính thưa các loại phụ phẩm phế liệu, kính thưa các hạng người… đều được Vũ Trọng Phụng nhồi nhét vào màn kịch trào phúng cỡ bự của mình một cách xô bồ, tự nhiên và sinh động đến lạ thường. Cái xã hội tật Nguyễn ấy chưa bao giờ mang tính quái thai đến thế, chưa bao giờ động cỡn đến thế. Dưới ngòi bút trào lộng sắc bén, Vũ Trọng Phụng đã vạch trần tất cả những tệ nạn bản chất nhất của cái xã hội bịp bợm “chó đểu” ấy. Nhà văn đã phá vở tung tóe tất cả những tỉ lệ hiện thực, làm lộn tùng phèo hết thảy những giá trị vốn có để gây nên chất trào lộng cho tác phẩm. Nó thê hiện ở một lôi hành văn đặc biệt, khi nói về cái hình thức bên ngoài, cái mã cái vỏ thì thậm xưng, tăng lên đến mây xanh, ngay sau đó nhà văn lại ném phịch nó xuống mặt đất bằng chính cái bản chất của nó. Cái hình thức bôn ngoài thì lớn lao, to tát, hùng hồn nhưng cái ruột thì lại thảm hại như một cách tiêu điều, đến tội nghiệp. Cuộc tiếp kiến lịch sử giữa vua ta và vua Xiêm được khoa trương với những từ ngữ đại hoa mĩ: nào là “Nước Việt Nam hồi xuân”, nào là “Một chỗ rẽ trong lịch sử”, nào là “Việt – Xiêm thân thiện”, “hai vua tại một nước”, nào là “một cái hân hạnh đặc biệt cho bình dân Việt Nam: cả vua Xiêm nhân dịp thân hành sang chơi với ta” nào là “hai nước Xiêm – Việt từ nay bắt tay nhau trên dường tiến bộ”. Tưởng là vua ta với vua Xiêm cùng nhau hội đàm, cùng nhau luận bàn việc nước hóa ra lại đi lông bông để cho dân chúng Hà Thành có dịp ngồi lê đối mách. Cuối cùng vì tinh thần thế thao chân chính, cả hai ngài cùng đến xem một trận đấu quần vợt. Vũ Trọng Phụng đã khéo léo đưa chuyện, dần chuyện để người đọc thấy được cái hệ trọng hàng mà của hai vị “thiên tử”. Chính sự khập khiễng ấy đã lập tức gợi lên cái chất hài hước cho câu chuyện.

Việc Xuân Tóc Đỏ, một tay vợt nghiệp dư, được mời ra tranh tài với tài

tử Luang Prabahot, quán quân quần vợt Xiêm La, không chỉ là một sự chỉ định tình cờ mà là kết quả của một sự xếp đặt, của một mưu ma chước qui sặc sụa chất vị kỉ, điển hình cho cái thói thắng nhân ố kỉ của Xuân Tóc Đỏ. Y đã tương kế tựu kế để làm hại hai nhà quán quân Hải và Thụ ở bót để hãnh diện tiến ra sân theo lời mời cùa đích vị Tổng cục trưởng tống cục thể thao Bắc Kì. Chính vì thế, Xuân Tóc Đỏ và ông bầu Văn Minh của mình trở thành đại diện Hà Thành để giữ cái danh dự cho Tố quốc.

Điều hài hước nữa là từ vua Xiêm và vua ta cho chí các quan Pháp đi xem thể thao nhưng lại thế hiện những hành vi, thái độ phi the thao đến nực cười. Vua Xiêm lại quá máu me ăn thua, sần sàng đem vận mệnh đất nước ra để đổi lấy chuyện thắng thua trong một quán quần vợt vô bổ. Trong khi đó vua ta thì chỉ cốt, đánh lấy… thua. Và chí thị ấy đã được ban tới tai Xuân Tóc Đỏ và kết cục ai cũng rõ là chiến thắng thuộc về Luang Prabahot, quán quân quần vợt Xiêm La và đức vua Xiêm S.M.Prafadophick. Huống nổi, sự hi sinh cao cả của bậc đại nhân, đại tài lại không được quần chúng thấu hiểu. Xuân Tóc Đỏ và Văn Minh bị lâm vào một nỗi oan Thị Mầu. Quả thua ngỞ ngẩn và khó hiểu của Xuân đã làm khán giả, những người sẵn sàng tự tử bằng cách hút thuốc phiện không có dâm thanh vì không mua được vé vào cửa, nổi cơn thịnh nộ. Họ hò hét “Quốc sỉ! về nhà bò! Di về nhà bò đi!” rồi “Abas Xuân! Abas Xuân! Dcsexplications!” (Đả đảo Xuân! Đả đảo Xuân! Hãy giải thích). Đáng thương thay, tội nghiệp thay cho Xuân Tóc Đỏ, oan ức thay cho y vì quần chúng “trẻ người non dạ”, “nông nổi” không thâu tỏ nổi tấc lòng trung hậu cao thượng của y.

Tất, cả những sự hiểu nhầm ấy đều tan biến bởi một bài thuyết giáo “cố lai hi” của y. Hãy xem những lời lồ trịnh thượng và nực cười đen nhường nào: “Hỡi quần chúng! Mi không hiểu gì, mi oán ta, ta vẫn quý mi mặc dù mi chẳng hiểu lòng ta!”. Trời đẩt hỡi cách xưng hô của bậc vĩ nhân mới độc đáo làm sao, độc đáo một cách tuyệt đối khiến người đọc không còn gì để bình thêm nữa, không có gì chê bai, khen tụng nữa. Nhưng chưa hết, để kết thúc bài hùng biện của mình, Xuân Tóc Đỏ dõng dạc: “Thôi giải tán đi, và cứ việc an cư lập nghiệp trong hòa bình và trật tự! Ta không dám tự phụ là anh hùng cứu quốc nhưng ta đã tránh cho mi cái nạn chiến tranh rồi. Hòa Bình vạn tuế, Hội Quốc Liên vạn tuế!”. Khỏi phải bàn những lời lẽ đã đưa hắn lên vị trí vĩ nhân, anh hùng cứu quốc, là thần tượng của “mi”, như cách gọi của bậc vĩ nhân Tóc Đỏ ấy. Bài thuyết giáo của y đã khai sáng đầu óc đám quần chúng tôi như hũ nút. Thê rồi thiên hạ sốt sắng hô to: “Xuân Tóc Đỏ vạn tuế, sự đại bại vạn tuế”. Sau đó là những lời chúc tụng lu bù, những vinh quang ập đến với Xuân một cách đột ngột. Chính phủ Pháp và An Nam tặng huân chương danh giá, được mời làm cố vấn báo Gõ mõ, là hội viên hội Khai trí tiến đức, đón mừng lời chúc tụng của cảnh sát giới mà cụ thể là Min Đơ, Min Toa, của các chủ khách sạn mà đại diện là Victor Ban, rồi bà Typn thay mặc cho chị em phụ nữ và đặc biệt là ông Phán thay mặc các

Qgười chồng mọc sừng. Tưởng như đã hết thì cuối cùng còn “nẩy nòi” ra ông thầy tướng sô chao ôi là vinh quang nhọc nhằn.

Buồn cười hơn cả là hình ảnh Xuân Tóc Đỏ hứa hẹn xin cho bà Phó Đoan một cái bảng “tiết hạnh khả phong”. Trời ơi, một chi tiết đắc địa đến lạnh người. Một con me Tây dâm loạn, lẳng lơ đỏng đảnh và rửng mỡ, đối lập hoàn toàn với bôn chữ cao quý ấy. Những chi tiết như câu gắt “Nước mẹ gì” của thằng vĩ nhân Xuân lại được khen rối rít và hứa hẹn đưa vào từ điển Đại Việt. Đặc biệt vừa nghe được chính phủ tặng bội tinh, cụ Hồng đã hô to “Bay dân, bày hương án” một gia đình gia phong nề nếp đến thế là cùng. Cách xưng hô “toa”, “moa” của bố con nhà Văn Minh cũng “văn minh” và nực cười đến chừng nào. Việc lẩy ra những sự tương phản, những điều lố bịch chính là để ta thấy rõ hơn cái bản chất băng hoại, suy đồi, sự phá sản hoàn toàn của các giá trị đạo đức truyền thòng. Chính lôi viết tương phán ấy là một nét trong nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng.

Những lời bình, những lời thể hiện trực tiếp thái độ của nhà văn song hành với lời kể của câu chuyện. Chẳng hạn như một bậc vĩ nhân nhũn nhặn, nó giơ quả dấm chào loài người, hay với tài hùng biện của một người đã thổi loa cho hiệu thuốc, với cái tự nhiên của một anh lính chạy cờ rạp hát lại được ông bầu Văn Minh đĩa kèn, Xuân Tóc Đỏ đã chinh phục quần chúng như một nhà chính trị đại tài. Thường thì nhà văn tả chân, nhà văn hiện thực tối kị việc đưa ra những lời nhận xét. Nhưng với Vũ Trọng Phụng thì khác, ông là một nhà văn châm biêm đả kích, là một nhà văn hiện thực đi đối với trào lộng phê phán. Những lời nhận xót của ông vừa mang đâm chất cười dân gian, vừa “humour” một cách trí tuệ, lại vừa gay gắt, chua chát. Đấy cũng là một Đặc điểm trong nghệ thuật trào phúng của ông, dưới ngòi bút đó, tất cả đều hiện nguyên hình với bộ mặt thật bỉ ổi. Với những phẩm chất như vậy, ông xứng đáng trở thành nhà văn hiện thực lớn và văn chương ông đúng là “sự thực ở đời” như ông từng quan niệm.

ĐỀ: Hạnh phúc cua một tang gia (’Chương XV tác phẩm số dó của Vũ Trọng Phụng) là một màn kịch hài đặc sắc.

Em hãy phân tích dể làm sáng tỏ nhận xét trên._______________________

BÀI LÀM

Số đỏ là cuốn tiểu thuyết trào phúng được viết theo khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa. Tác phẩm đã phát huy cao độ tài năng châm biếm, đả kích sắc sảo cua Vũ Trọng Phụng. Thói căm ghét của ông đối với xã hội thối nát không còn là một lời chửi rủa nửa mà nổ ra thành một trận cười sáng khoái, có sức công phá mạnh mẽ tung vào giữa những cái lố bịch, kệch cỡm, nghịch lì của xã hội đương thời. Dưới ngòi bút kì tài của Vũ Trọng Phụng, chương nào đoạn nào cũng thú vị, hấp dẫn như một màn hài kịch trọn vẹn, Đặc biệt và điển hình hơn cả là chương Hạnh phúc của một tang gia.

Với chương này của tác phẩm Số đỏ, khuynh hướng hiện thực trào phúng thể hiện trong văn chương của Vũ Trọng Phụng có thể nói là đạt đến mức hoàn mĩ như chính nhận xét của Vũ Trọng Phụng nhằm đáp lại lời công kích của Nhất Linh năm 1937 ‘‘khi dùng một chữ bẩn thiu tôi chẳng thấy khoái trá như khi các ông tìm dược một kiểu áo phụ nữ mới mẻ, những lúc ấy, tôi chỉ thương hại cái nhân loại ô uế bẩn thỉu, 11Ó bắt tôi phải viết như thế, và nó bắt các ông phải chạy xa sự thực bằng những danh từ diêu trá của văn chương… Đó, thưa các ông, cái chỗ bất đồng ý kiến giữa chúng ta! Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiếu thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết dó là sự thực ở đời…”

Theo tinh thần và tâm huyết đó, ngay trong đầu đề của chương truyện, tác giả đã gởi gắm, tạo ra một tiếng cười châm biếm về cái nghịch lí lạ lùng của nhân tình thế thái. Một gia đình có tang, ở đây là đại tang thì tâm trạng của những người trong gia đình ắt hẳn phải là thương tiếc, sầu não. Đằng này, họ lại hạnh phúc, “Hạnh phúc của một tang gia”! mới nghe có vẻ ngược đời nhưng suy ngẫm kĩ, đọc hết toàn chương, đặt trong hoàn cảnh cụ thế của gia đình này, thì điều hạnh phúc ấy lại hoàn toàn hợp lí, chân thực. Vũ Trọng Phụng sắc sảo trong tiêng cười châm biếm là ở chỗ ấy. Nghịch lí mà hợp lí. Tưởng cường điệu, phóng đại mà lại rất chân thực, chân thực đến cụ thể.

Thật vậy, ở đám tang cụ tổ, gia dinh này ai cũng vui như Tết. Mỗi người, tùy theo quan hệ thân thuộc, sẽ có những hạnh phúc, sự thỏa mãn khác nhau. Ai ai cũng thấy đây là dịp may để họ có thể đạt một nguyện vọng, một ý đồ nào đó.

Cậi chết của cụ tổ, như vậy, dưới mắt của Vũ Trọng Phụng chính là một tình huông điển hình giúp nhà văn xây dựng những tính cách đặc sắc. Qua tính cách này của những người có quan hệ ruột rà với cụ tổ, Vũ Trọng Phụng sẽ có dịp bộc lộ, vạch rõ chân tướng nhố nhăng, lố bịch, thiếu tình người của những hạng người mang danh là thượng lưu, quý phái, văn minh tân thời nhưng thực chất là những cặn bã, quái thai của cái xã hội dở Tây dở ta buổi ấy.

Cái chết của cụ chẳng làm cháu con nào thiếc thương, bới đã từ lâu. họ mong cụ chết cho nhanh để chia gia tài. Chính vì thủ’, cái chết của cụ sẽ đem đến cho họ một niềm vui to lớn, không che giấu hạnh phúc. Ta hãy nghe Vũ Trọng Phụng trần tình: “Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm… “Bọn con cháu vô tâm ai cũng vui sướng thỏa thích …” Người ta tưng bừng, vui vẻ di đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma,… tang gia ai cũng vui vẻ cả”…

Trước hết là cậu tú Tân, cháu nội cụ tổ rất hào hứng, phấn khới vì cậu có dịp trổ tài và sử dụng “mấy cái máy ảnh mà mãi cậu không dược dùng đến”. Vợ Văn Minh (cháu dâu) mừng rỡ vì sẽ “được mặc đồ xô gai tân thời”, và đội “cái mũ mẩn trắng viền đen”… để quảng cáo cho một kiểu đồ tang tân thời!

Người con trai của cụ tố’ sung sướng vì một lí do khác lớn hơn. Cụ cố Hồng “mơ màng đến cái lúc cụ mặc dồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu” để cho thiên hạ bình phẩm, ngợi khen: “úi kìa, con giai nhớn đã già dến thế kia kìa!”

Văn Minh (cháu nội) đã từng du học bôn Tây bao năm, về nước không có lấy một mảnh bằng, chỉ nhăm nhăm nghĩ tới chuyện chia gia tài thì thích thú ra mặt vì “cái chúc thư kia sẽ vào thời kì thực hành chứ không còn là lí thuyết viển vông nữa”. Riêng người cháu rể (Phán mọc sừng) thì khấp khởi, sướng rơn trong bụng vì đã được bố vợ “nói nhỏ vào tai rằng sẽ chia cho con gái và rể thêm một số tiền là vài nghìn đồng. Chính ông ta củng không ngờ rằng giả trị đối sừng hươu vô hỉnh trên đầu ông ta mà lại to đến như thế”. Không khí của đám ma là không khí của một ngày hội. Đây cũng chính là mâu thuẫn trào phúng gây cười ra nước mắt, xuyên suốt hoạt cảnh, tình huông.

Đám ma cũng là dịp hiếm có để trưng bày và quảng cáo các mốt quần áo âu hóa mới nhất của tiệm may vợ chồng Văn Minh – sản phẩm độc đáo của nhà thiết kê mĩ thuật Typn. Đó cũng là dịp đổ cô Tuyết với bộ y phục “Ngây thơ” hỞ hang với nét mặt cố tạo một “vẻ buồn lãng mạn rất dứng mốt một nhà có dám”, khiên cho bao nhiêu vị khách đàn ông “khi trông thấy làn da tráng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực Tuyết” phải xúc động còn hơn nghe tiêng kèn đám ma.

Điều này còn lây lan sang cả những người không phải là thân thích, ruột rà. Những kẻ đi dự đám tang bao gồm đám bạn bò, quan khách. Họ đèn đám ma với đủ mục đích. Họ khoe mề đay, huân chương, những bộ ria mép. Nếu là đàn bà thì đó là dịp để họ đua nhau bình phẩm về người khác. Thật mỉa mai, họ làm tất thảy điều đó “bằng những vẻ mặt buồn rầu của những người di dưa ma” (!)

Người dân hai bên phố đồ ra xem đám ma như một sự lạ. Đám ma to đến nỗi những người trong tang gia cảm thấy hết sức “sung sướng” và hàng phô “nhõn nháo lên khen dám ma to”. Lúc bây giờ, nhà văn lạnh lùng bình luận:

“Dám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái dầu…!”. Thật là mỉa mai. chua xót.

Song song với miêu tả, ngòi bút sắc sảo, nghiêm lạnh của nhà văn trưng lên liên tiếp những chân dung, những tình huông. Đó là những bức biêm hoạ bằng ngôn ngữ giúp người đọc nhận ra chân tướng xã hội, chán tướng những người được mệnh danh là thượng lưu, quý tộc. Ông giúp người đọc nhận ra rằng, đám ma to tát kia quả là có đủ cả nhưng chi thiêu duy nhất một điều, và điều này lại là điều quan trọng nhất, đó là tình người. Thông điệp nhân văn của tác phẩm trở nên rõ ràng sau tiếng cười trào lộng. Nếu con người thực sự thiếu tình người, lòng thương tiếc chân thành với người đã khuất thì đám ma dù lòe loẹt đến mức nào đi

nữa, to tát đến mức nào đi nữa, đó cũng chỉ là hình thức, giả dôi. Rõ ràng, thông điệp ấy không chỉ nhắm, vào thời đại của Vũ Trọng Phụng, tính thời sự của bức thông điệp này có ý nghĩa với tất cả chúng ta!

Mấy chi tiết đặc tả cảnh hạ huyệt càng mỉa mai, trào phúng. Nó được dàn dựng bởi một bàn tay đạo diễn non nớt, lộ liễu. Cậu tú Tân bắt từng người phải chống gậy, gục đầu, cong lưng lau mắt… đổ cậu chụp ảnh. Trong khi, bạn hữu của cậu “rầm rộ nhảy lên những ngôi mả khác mà chụp để cho ảnh khỏi giông nhau”.

Chất bi hài của cảnh được đặc tả làm bật lên tiêng cười… ra nước mắt. Rồi tiếng khóc đặc biệt, như một điệp khúc của ông Phán mọc sừng: “ông Phán oặt người di, khóc mãi không thôi”. Ỏng khóc: “Hứt!… Hứtỉ… ỉ lứt!…” Nêu có thố’ nói rằng, chi tiết làm nôn nhà văn lớn thì ở đây, chi tiết được đặc tả của Vũ Trọng Phụng đã đạt đến mức hoàn thiện.

Qua chương Hạnh phúc của một tang gia, Vũ Trọng Phụng đã thể hiện tài năng kế chuyện bậc thầy của một nhà văn chàm biêm trào phúng. Bút pháp của ông giỏi ở chỗ nêu nghịch lí mà hợp lí trong hoàn cảnh, mẫu người cụ thế. Phóng đại, hư cấu mà như thật. Ông chú ý đến sự đối kháng giữa hiện tượng và bán chất, sự thực và giả dối. Ổng khai thác triệt để, đầy góc cạnh nhằm tạo ra những tràng cười có ý nghĩa phô phán sâu sắc. Ông vạch rõ chân tướng của một lớp người, cảnh báo về sự băng hoại xã hội nếu xã hội vẫn tồn tại hạng người ấy. Bức thông điệp này lại được thể hiện bằng năng lực trào phúng sắc sảo của ông khiến cho giá trị của Số đỏ càng trở nên bền vững.

Có thể nói rằng, Sô đỏ là một bức biếm họa đầy chi tiết của một thời và một đời

Nguồn:

Làm sáng tỏ vấn đề của nhà thơ Tố Hữu về văn học

Bài làm

“Văn học là nhân học”

Đại văn hào Nga, Maxim-Gorki, khẳng định như thế. Nhưng để cho người tiếp nhận tác phẩm văn học một cách thấu đáo như Gorki thật là một vấn đề rất khó. Đôi với những người dạy Văn, học Văn, ý kiên của Gorki có sức thuyết phục mạnh mẽ. Tương tự như Gorki, nhà thơ Tô Hữu đã nhắn nhủ thầy cô giáo cùng các em học sinh:

“Dạy Văn học, học Văn học là một niềm vui sướng lớn. Qua mỗi giờ Văn học, thầy, cô giáo có thể làm rung động các em, làm các em yêu đời, yêu lẽ sông và lớn thêm một chút”.

Như chúng ta đã biết, Văn học không như những môn khoa học tự nhiên khác: Toán, Lý, Hóa, Tin học,… Văn học là một bộ môn nghệ thuật rất khó. Văn học không những đáp ứng nhu cảu giải trí của con người mà còn cung cấp một lượng kiến thức khá phong phú cho chúng ta về tinh thần. Văn học giúp chúng ta biết yêu ghét, phân biệt phái trái; biết ca ngợi cái chân- thiện -mỹ, lên án cái độc ác, xấu xa…

Vì sao nhà tho’ Tố Hữu nói: “Dạy Văn học, học Văn học là một niềm vui sướng lớn?”.

Dạy Văn học là cung cấp kiến thức Văn học cho học sinh thông qua công tác truyền đạt của nhà sư phạm chuyên ngành. Các em học sinh trong quá trình soạn bài hoặc tìm hiểu tác phẩm, chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn. Tại giờ học Văn, thầy (cô) giáo sẽ giải thích, phân tích hoặc bình giảng một cách cặn kẽ, thấu đáo, giúp các em chưa hiểu hoặc ít hiểu đến chỗ hiểu cơ bản hoặc hiểu sâu sắc tác phẩm Văn học ấy. Để có được diều này, rất cần đến kinh nghiệm, năng lực của thầy (cô) giáo. Vì giáo viên và học sinh được tiếp xúc với những kiệt tác Văn học đặc sắc trong và ngoài nước nên họ cảm thây rất sung sướng. Hơn nữa, giáo viên cảm thấy tự hào bởi mình được phân công công tác trồng người, được giáo dục đàn em thân yêu, được đứng trên bục giảng, có cơ hội để thể hiện năng lực của mình… Còn học sinh được tiếp thu nguồn kiến thức quý báu của nhân loại, được học làm người qua các tác phẩm Văn học mà thầy (cô) giáo giảng dạy. Bởi vậy, các em cảm thấy hạnh phúc lắm.

Tại sao “Qua mỗi giờ Văn học, thầy (cô) giáo có thể làm rung động các em, làm các em yêu đời, yêu lẽ sông và lớn thêm một chút.’ ?

Có thề nói rằng, cuộc sống đời thường khá tất bật. Chỉ có đôn trường đến lớpmột môi trường sư phạm trong sáng – lại được các thầy cô giáo có năng lực và tâm b’ ‘.yết dìu dắt, tâm hồn các em học sinh được tập trung lắng đọng và mở rộng, nên các em cảm thấy say sưa, thú vị, trong giò’ học Văn. Từ đó, càng cảm, càng thấu hiểu tác -phẩm Văn học, tâm hồn các em càng dễ rung động.

Thuở còn cắp sách đến trường nghe thầy giáo đọc thơ, Trần Đãng Khoa thấy “đất trời đẹp ra”, thấy cuộc đời thật đẹp, thật đáng yêu:

“Em nghe thầy đọc bao ngày Tiếng thơ đỏ nắng, xanh cây quanh nhà Mái chèo nghe vọng sông xa Em êm nghe tiếng của bà năm xưa Nghe trăng thở động tàu dừa Rào rào nghe chuyển cơn mưa giữa trời Thèm yêu tiếng hát nụ cười Nghe thơ em thấy đất trời đẹp ra”.

Những học sinh có tâm hồn như Trần Đăng Khoa không phải là ít. Tâm hồn của các em thơ ngây, trong trắng và đẹp lắm! Chỉ cần “những kĩ sư tâm hồn” khơi gợi đúng nguồn là các em sẽ “lớn thêm một chút”, thậm chí tâm hồn các em còn cất cánh bay cao hơn nữa.

Đã một lần, trong giờ học nâng cao kiến thức bộ môn Văn dành cho học sinh lớp chuyên, em được thầy giáo giảng bài thơ sau đây của Tô Đông Pha (Tô Thức), một đại thi hào đời Tông:

“Rượu kia không uống sao say Ngựa di thì tấm lòng này cùng đi Em về bịn rịn đỉnh vi Anh nay an ủi bằng gi? Quanh côi!

Lèn cao ngoái lại nương đồi Mủ đen thấp thoáng khuất rồi lại nhô Áo đen mỏng, lòng anh lo Lo con ngựa Ốm quanh co trăng tà ơ, đi đáng lẽ vui ca,

Tiểu đồng sửng sốt sao ta quá sầu!

Biệt li có lạ gì đâu Chỉ e ngày tháng dãi dầu vụt trôi.

Nhớ xưa đèn lạnh đôi hồi Cái đêm hiu quạnh cùng ngồi nghe mưa Y này em đã nhớ chưa?

Quan cao chức trọng say sưa làm gi”.

(Hoa Bằng dịch)

Bài thơ miêu tả cuộc chia tay bịn rịn giữa Tô Đông Phạ với em T^ai là Tử Do – một tiên sĩ triều Gia Hựu. Tình cảm anh em của Tô

Dông Pha vô cùng thắm thiết. Tử Do đã lên yên ngựa vồ đi xa rồi mò Tô Đông Pha hãy còn trèo lên cao đế ngóng trông theo. Tiết trời rét lạnh, nghĩ đến Tử Do mặc áo lông cừu mỏng manh, đi bằng con ngựa gầy trong gió sương mà lòng dạ Tô Đông Pha xót xa. Cuộc chia tay nào mà chẳng buồn? Dù biết rằng thế nhưng Tô Đông Pha không muốn xa cách đứa em trai thân yêu lâu ngày dài tháng. Đứng trên cao nhìn ánh trăng tàn, Tô Đông Pha bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm xưa cùng em ngồi đối diện trước ngọn đèn, lặng lẽ đêm từng hạt mưa rơi. Mưa đêm ấy lạnh nhưng có em bên cạnh, lòng Tô Đông Pha cảm thấy ấm áp. Tô Đông Pha khuyên em đừng luyến tiếc quyền cao chức trọng, hãy sông một cuộc đời thanh bạch, hướng thượng. Bởi vậy, tiễn em đi rồi, Tô Đông Pha hãy còn lo lắng rằng em có nhớ lời anh dặn dò nhắn nhủ chăng? Thật đúng là “anh em như thể tay chân”.

Một điều chắc chắn rằng: nếu không có thầy giảng giải, phân tích bài thơ trên thì em không bao giờ hiểu hết nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đặc biệt là tâm sự của Tô Đông Pha, vì đây là bài thơ viết bằng chữ Hán. Chính vì hiểu thơ Tô Đông Pha, em lại yêu thích thơ Tống. Em cảm thấy thơ Tông vẫn mênh mông bát ngát tình, hàm súc, cô đọng như thơ Đường. Ngoài ra, lòng em vui sướng vì mình được tiếp thu thêm nhiều kiến thức mới mẻ, cổ điển, độc đáo. Tâm hồn em thật sự rung động trước tình anh em cao quý của Tô Đông Pha. Em xem bài thơ ấy là một bài học hay dành cho em về tình huynh đệ. Điều đó không chỉ là niềm vui sướng lớn đối với em mà còn là niềm hạnh phúc vô biên của thầy em.

Trong một buổi học nâng cao khác, em lại được thầy giáo giảng cho nghe kiệt tác Sô phận con người của đại Văn hào Nga Sôlôkhôp người từng đạt giải thưởng Nôben về Văn học năm 1965 với bộ tiểu thuyết Sông Đông êm đềm. Kiệt tác số phận con người gồm phần mơ đầu, phần kết thúc và ba chương: Chương I là tiểu sử của Xôcôlôp từ những năm trai trẻ đến thời gian chiến tranh vệ quốc bắt đầu. Những năm nội chiến, anh tham gia Hồng Quân. Năm đói 1922 cả nhà chết đói, chỉ mình anh đi làm thuê cho Culắc nên sống sót. Xôcôlôp làm nghề mộc, nghề nguội rồi lấy vợ, dần dần xây dựng được một gia đình hạnh phúc, có nhà cửa, vợ hiền và ba con. ơ chương II, chiến tranh bùng nổ, Xôcôlôp từ giã vợ con ra mặt trận. Anh bị phát xít bắt

làm tù binh, phải chịu đựng bao sự tra tấn dã man của kẻ thù. Cuối cùng Xôcôlôp chạy trốn khỏi trại tù, trở về với Hồng Quân, về đơn vị được ít lâu thì anh nhận được tin đau đớn: một trái bom của máy bay phát xít đã chôn vùi ngôi nhà cùng vợ và hai con gái của anh. ở chương III: một hi vọng mới sưởi ấm tâm hồn giá lạnh của Xôcôlôp: anh nhận được thư của người con trai lớn nay đã là một đại uý pháo binh. Khi chiến tranh sắp kết thúc, tiến quân gần đến Béc lin, Xôcôlôp chờ đợi giây phút bố con gặp nhau. Và anh đã được gọi đến đế nhìn mặt con lần cuối cùng, con trai anh đã bị tử trận vào ngày mồng chín tháng năm, ngày chiến thắng.

Điều mà em xúc động nhất khi được làm quen với tác phẩm này là đoạn nói về sự đau thương mất mát của con người do chiến tranh gây ra. Khi nghe thầy giảng đến đoạn Xôcôlôp trở về sau ngày hòa bình, em đã cố nén cho những giọt nước mắt chảy vào lòng. Xôcôlôp đã lần lượt mất tất cả trong chiến tranh, trái tim của anh không bao giờ như xưa nữa mặc dù có bé Vania – một đứa trẻ côi cút-sưởi ấm trái tim giá lạnh của anh. Xôcôlôp đã tâm sự: “Trái tim của tôi đã rệu rã lắm rồi… có khi tự nhiên nó nhói lên, thắt lại vào giữa ban ngày mà tối tăm mặt mũi… hầu như đêm nào tôi cũng chiêm bao thấy những người thân đã quá cố… ban ngày bao giờ tôi cũng trấn tĩnh được, không thở ra một tiếng thở dài, một lời .han vãn, nhưng ban đêm thức giấc thì gối đẫm nước mắt…”. Chiến tranh là như vậy đó! Tiếng súng đã im, bom đạn đã thôi rơi… Nhưng vết thương tâm hồn vẫn còn âm ỉ mãi, được dịp là nó tái phát đau nhói, không có sự bù đắp cũng như không có loại thuốc nào chữa khỏi.

Mặc dù giờ học đã kết thúc, thầy giáo rời lớp nhưng em vẫn còn nghe văng vẳng bên tai giọng nói ấm áp, dạt dào cảm xúc của thầy. Cũng như nhiều bài giảng văn khác, bài giảng về kiệt tác Số phận con người đã không những làm cho em mê say, thích thú mà còn mở ra trước mắt em một cái nhìn đồng cảm với cái nhìn mới đầy nhân bản của Xôlôkhốp trong kiệt tác này nói riêng và trong Văn học Xô viết đôi với chiến tranh nói chung.

Tóm lại, văn chương giáo dục chúng ta rất nhiều; có ích cho tư tưởng tình cảm của chúng ta. Cuộc đời sẽ đẹp đẽ biết bao khi văn chương sống mãi mãi với thời gian và những người dạy Văn học, học Văn học sẽ vui sướng biết bao khi được tiếp xúc, tìm hiểu một cách thường xuyên, sâu sắc với văn chương. Văn chương sẽ giúp cho chúng ta được phát triển toàn diện về nhân cách lẫn tâm hồn. Chúng ta hãy cố gắng học Văn để khám phá thế giới, nâng cao sự hiểu biết về con người, cuộc đời cũng như gìn giữ tư tưởng và bồi dưỡng tình cảm ngày càng trong sáng, tốt đẹp để vươn tới chủ nghĩa Nhân văn.

Nguồn:

Thuyết minh về một danh nhân

Bài làm

NGUYỄN CÔNG TRỨ (Giới thiệu một danh nhân)

(19.XÍI.1778 – 7.XII.1858). Nhà thơ Việt Nam, tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu là Hy Văn; sinh ngày 1 tháng 11 năm Mậu Tuất. Người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Cha là Nguyễn Công Tấn, trung thần thời Lê mạt, trước dạy học, sau thăng Tri huyện, rồi Tri phủ. Khi Tây Sơn nổi lên lật đổ triều đình Lê – Trịnh, Nguyễn Công Tấn mộ quân chông lại. Không thành, ông trở về quê mở trường dạy học. Nguyền Công Trứ lúc nhỏ sống nghèo túng, nhưng vẫn hăm hở đi học, đi thi. Sau nhiều lần trượt lên trượt xuống, 41 tuổi ông mới đậu Giải nguyên kỳ thi hương (1819) và được bố làm quan. Đầu tiên ông làm Hành táu ở Quốc sứ quán, sau đó làm Tri huyện Đường Hào, Hải Dương, làm Tư nghiệp Quốc tử giám, rồi làm Phủ thừa phủ Thừa Thiên… 1828, được thăng hữu Tham tri Bộ hình, sung chức Dinh điền sứ, chuyên coi việc khai khấn đất hoang. Ông đã hướng dẫn nông dân khai phá được một vùng đất đai rộng lớn ven bờ biển Thái Bình và Ninh Bình, lập nên hai huyện Tiền Hải, Kim Sơn. Ngoài ra, ông còn chi huy việc khai khẩn vùng đất hoang ven biển hai tinh Quảng Yên, Hải Dương. Nhân dân ở các vùng này rất biết ơn ông, có nơi lập sinh từ đế thờ ông ngay lúc ông còn sống. Nói chung, Nguyễn Công Trứ làm việc gì cũng hết sức tận tụy, thế nhưng trong 28 năm làm quan ông vẫn bị giáng chức và cách chức đến năm lần. Lần bị nặng nhất là năm 1843, bị cách tuột, bắt làm lính thú lên trấn ở biên thùy Quảng Ngãi. Nhưng vài năm sau lại được phục chức, làm Chủ sự Bộ hình, rồi làm quyền Án sát Quảng Ngãi, sau đó đổi ra làm Phủ thừa phủ Thừa Thiên, và 1847, được thăng Phủ doãn phủ ấy. 1848, Tự Đức nguyên niên Nguyễn Công Trứ 70 tuổi, được về hưu, sống ở Nghi Xuân, ngót H năm trời. 1858, Pháp tấn công Đà Nẵng, tuy đã 80 tuổi, ông vẫn thi thiết xin được tòng quân đánh giặc. Nhưng tuổi già, sức yếu, ông không di dược, và ngày 14 tháng 11 năm Mậu Ngọ, ông từ trần.

Nguyễn Gông Trứ sáng tác khá nhiều, tương truyền có don trơn dưới một nghìn bài thơ, hầu hết bằng chữ Nôm, nhưng phần lớn bị thất lạc. Hiện còn khoảng trên 150 bài. Thế tài nhiều nhất là hát và nói thơ Đường luật (…). Những sáng tác của ông trong giai đoạn đầu phản ánh tâm trạng tầng lớp trí thức lớp dưới hăm hở đi học, đi thi đế làm quan. Ông đặc biệt ca ngợi con người hành động, con người trung hiếu, đề cao chí nam nhi, đề cao vai trò của kẻ sĩ theo tinh thần Nho giáo, đả kích Phật giáo, Đạo giáo và tràn đầy tinh thần lạc quan, tin tưởng. Nhưng càng về sau, tinh thần lạc quan càng giảm sút. Do quá trình tham gia hoạt động xã hội, Nguyễn Công Trứ nhận thức ra được triều đại mà ông tôn thờ không phải tốt đẹp như ông tưởng và những thiện chí của ông không phải dễ thực hiện. Nguyễn Công Trứ muốn phục vụ nhà Nguyễn thì chính nhà Nguyễn nghi ngờ ông. Nguyễn Công Trứ muốn làm quan thanh liêm thì có lần triều đình đã bắt tội, hạch sách ông. Nguyễn Công Trứ muôn cải cách xã hội thì phần lớn đề nghị của ông bị bác bỏ… Gia đình ông lại luôn sống trong cảnh nghèo túng. Chính bối cảnh ấy đã làm cho Nguyễn Công Trứ dần dần chuyến hướng sáng tác: ông từ bỏ dần những dề tài có tính chất ca ngợi, khẳng định, để viết những đề tài có màu sắc tô” cáo, đả kích xã hội. Hàng loạt bài thơ về thế thái nhân tình của ông ra đời. Nhà thơ vạch trần thói đạo đức giả của bọn giàu có (Thế tình đối với người nghèo)] thông cảm với cảnh ngộ của những người nghèo khổ (Vịnh cảnh nghèo, Than cảnh nghèo…)] tố cáo gay gắt tác dụng tai hại của đồng tiền (Vịnh nhân tình thế thái, Vịnh đồng tiền). Câu thơ tố cáo, đả kích của Nguyễn Công Trứ không có những hình ảnh, những chi tiết cụ thể, sinh động, nhưng do chỗ thấm đượm c. xúc sâu sắc, nên vẫn có sức lay động mạnh. Tuy nhiên, trước sau Nguyễn Công Trứ vẫn không thoát khỏi được ý thức hệ Nho giáo là ý thức hệ thống trị của xã hội, cho nên ông không có quan hệ chặt chẽ với nhân dân. Do đó mà về sau, khi thấy sự phê phán của mình không đem lại kết quả, hoạt động của mình thất bại, ông tỏ ra chán chường, và sáng tác những bài thơ có tính chất hưởng lạc, thoát li. Ông thường hay triết lý cuộc đời là vô nghĩa, tạm bợ, không ai sông trăm tuổi, nên phải ăn chơi đế bù đắp lại:

Nhẫn sinh bất hành lạc,

Thiển tuế diệc vi thương.

(ở đời không hành lạc thì sống nghìn năm cũng như đứa chốt yểu) (Đánh thức người đời). Điều đáng trách ở đây là thái độ thiếu tôn trọng của Nguyễn Công Trứ đối với phụ nữ.

Về nghệ thuật, Nguyễn Công Trứ làmột cây bút thơ Nôm (lạc sắc, nhưng ông thành công nhất là trong những bài thơ viết bằng thể hát nói. Hát nói vốn là thể bài hát, được lưu hành trong các hanh viện, các nhà hát ả đào. Nguyễn Công Trứ là một trong những người đầu tiên nâng lên thành một thể thơ hoàn chỉnh, không phải chi (le nói chuyện ăn chơi, mà nói về sinh hoạt, mọi cảm nghĩ của nhà thơ trước cuộc sống. Thể hát nói trong các bài thơ của Nguyễn Công Trứ khi thì hào hùng, sôi nồi, khi thì du dương, êm ái. Với thế hát nổi, Nguyễn Công Trứ, cũng như Cao Bá Quát, đã chuẩn bị một bước dôi mới về sau cho thi ca tiếng Việt.

Nguồn:

Thuyết minh về Động Phong Nha theo phong cách hướng dẫn viên du lịch

I.  DÀNÝ

1.  Mở bài:

* Giới thiệu chung:

– Vị trí của động Phong Nha.

– Các đường dẫn vào động.

2.  Thân bài:

* Thuyết minh về vẻ đẹp của động:

+Cấu tạo của động:

– Gồm Động khô và Động nước.

– Động khô ởđộ cao 200m, vốn là dòng sông ngầm đã kiệt nước, chỉ còn những vòm đá trắng vân nhũ và các cột đá màu xanh óng ánh,

– Động nước vẫn có một con sông đang chảy, nước sâu và rất trong… Vào động phải mang theo đèn, đuốc…

+Vẻ đẹp của động:

– Là vẻ đẹp lộng lẫy, kì ảo của các khối thạch nhũ muôn hình muôn sắc…

– Phong phú, đa dạng: Các hành lang dài hàng ngàn mét, cảnh vật hoang sơ, bí hiểm… Các bãi đá, bãi cát, ngõ ngách… rất hấp dẫn… tạo nên một thế giới khác lạ như thế giới thần tiên…

+Giới thiệu thêm về quy mô của khu du lịch sinh thái Phong Nha – Kẻ Bàng trong tương lai:

– Sẽ được đầu tư mở rộng.

– Cảnh sắc phong phú, tươi đẹp không kém gì vịnh Hạ Long, một kì quan của thế giới.

3.  Kếtbài:

* Nhận xét về vẻ đẹp độc đáo của động Phong Nha:

– Mượn lời nhận xét của nhà thám hiểm Hao-ớt Lim-be, trưởng đoàn thám hiểm Hội địa lí Hoàng gia Anh: Phong Nha là hang động dài nhất và đẹp nhất thế giới…

II.  BÀi làm

Kính chào các quý vị du khách!

Rất hân hạnh được chào đón quý khách đến tham quan động Phong Nha!

Sau một hành trình vất vả, tôi tin rằng quý khách sẽ được đền đáp bằng những điều bất ngờ và lí thú ngoài sức tưởng tượng khi tham quan động Phong Nha, một hang động được mệnh danh là Đệ nhất kì quan.

Động Phong Nha nằm trong một quần thể hang động thuộc dãy núi đá vôi Kẻ Bàng ở phía Tây tỉnh Quảng Bình. Chúng ta có thể dễ dàng đến Phong Nha bằng hai con đường: đường thuỷ và đường bộ. Đường thuỷ ngược dòng sông Gianh, đến đoạn sông Gianh gặp sông Son thì cứ theo sông Son mà vào. Đường bộ theo tỉnh lộ số 2 đến bến sông Son, dài chừng 20 cây số. Từ bến sông này đi thuyền máy độ ba mươi phút là tới Phong Nha. Đoàn tham quan của chúng ta vừa đi theo đường bộ.

Thưa quý khách!

Hiện giờ, chúng ta đang đứng trước cửa động. Phong Nha gồm hai bộ phận: Động khô và Động nước. Động khô ở độ cao 200m. Theo các nhà địa lí học thì chỗ này thuở xưa vốn là một dòng sông ngầm chảy qua dãy núi đá vôi, nay đã kiệt nước. Nước biển cùng với gió và thời tiết trải mấy ngàn năm đã bào mòn núi thành hang động. Trong hang là những vòm đá trắng nổi vân như mây và vô số cột đá màu xanh ngọc bích óng ánh.

Trước mắt chúng ta là động chính của Phong Nha gồm mười bốn buồng, tức mười bốn hang nối với nhau bằng một hành lang đá dài hơn ngàn rưởi mét. Độ cao của hang từ ngoài vào trong khá chênh lệch, ở những buồng ngoài, vòm hang chỉ cách mặt nước chừng 10 mét nhưng từ buồng thứ tư trở đi thì vòm hang cao tới 25 – 40 mét. Càng vào sâu, hang càng lớn. Chỉ mới có một vài đoàn thám hiểm đặt chân tới đó với đầy đủ trang thiết bị hiện đại.

Hấp dẫn du khách nhiều nhất vẫn là Động nước. Trái với Động khô, Động nước hiện thời vẫn đang có một con sông dài chảy suốt ngày đêm. Sông khá sâu và nước rất trong.

Thú vị tuyệt vời là lúc thuyền nhẹ lướt trên sông, đưa du khách thưởng ngoạn khung cảnh hữu tình non xanh nước biếc ngay trong lòng động. Gió từ biển Đông thổi vào hoà quyện với hơi lạnh từ các dãy núi đá thoang thoảng mùi

hương của hoa phong lan và các loại hoa rừng đang nở rộ khiến không khí trong lành, dễ chịu vô cùng.

Vì trong hang khá tối nên xin quý vị nào có đèn pin hãy bật lên Đềchúng ta có thể chiêm ngưỡng được vẻ đẹp kì lạ có một không hai của động Phong Nha.

Du khách bước vào cửa động sẽ bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp huyền ảo, đa dạng của động. Vách động cao và thẳng đứng được bao bọc bởi những nhũ đá. Dưới ánh sáng lung linh của đèn đuốc, các khối thạch nhũ hiện lên đủ mọi hình khối và màu sắc lộng lẫy. Có khối hình con gà, con cóc, có khối xếp thành hình đốt trúc dựng đứng trên mặt nước… Lại có khối hình mâm xôi, hình cái khánh hoặc hình các tiên ông đang ngồi đánh cờ, tiên nữ đang múa hát… Bàn tay tài hoa của Tạo hoá đã khéo tạo cho các khối thạch nhũ không chỉ đẹp về đường nét mà còn huyền ảo về sắc màu, một sắc màu lóng lánh như kim cương khống bút nào tả xiết… Cửa động nhỏ hẹp được giấu kín trong lòng núi nhưng càng vào sâu càng mở rộng khiến cho người xem đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.

Dọc theo sông có nhiều bãi cát, bãi đá Đềcho khách đi thuyền tạm dừng chân. Những con thuyền nhỏ soi mình trên mặt nước trong xanh giống như những dấu lặng làm cho bản tình ca của thiên nhiên ngân thêm những cung bậc trữ tình bâng khuâng, xao xuyến.

Chúng ta hãy men theo các ngõ ngách trong hang Đềthăm thú đó đây, chụp ảnh kỉ niệm hoặc thắp hương trên những bàn thờ của người Chăm, người Việt dựng nên từ thuở xưa. Bàn tay điêu khắc kì diệu của thiên nhiên đã làm cho cảnh đẹp Phong Nha phong phú và đa dạng. Khung cảnh ở đây vừa hoang sơ, bí hiểm lại vừa thanh thoát và giàu chất thơ. Quý vị sẽ thấy khung cảnh hiện ra trước mắt không phải là khung cảnh thường thấy ở ngoài đời mà là cảnh thần tiên chỉ có trong thế giới thần thoại hay cổ tích.

Thưa quý khách!

Phong Nha chỉ mới đưa vào khai thác Động nướcvà Động khô, hai trong quần thể 300 hang động, vậy mà danh thắng này đã hấp dẫn rất nhiều du khách trong và ngoài nước. Nếu khu động Phong Nha bí hiểm làm kinh ngạc người xem và là đề tài nghiên cứu lâu dài của các nhà khảo cổ, địa chất học thì khu rừng nguyên sinh 40. 000 ha với hàng ngàn loài động, thực vật trên rừng, dưới biển là một thế giới vẫn còn cất giữ bao điều huyền bí thú vị, hấp dẫn mà con người chưa biết hết.

Đây chỉ là một phần nhỏ trong khu vườn quốc gia rộng gần 100. 000 ha nằm giữa hoang mạc đá vôi hình thành cách nay hơn 300 triệu năm, chạy dài từ đất Việt qua tận đất Lào, được coi là lớn nhất thế giới.

Trong tương lai gần, khi các tuyến du lịch mở rộng phạm vi ra hết các hang động ở đây thì quy mô khu du lịch này chẳng kém gì vịnh Hạ Long, nơi được đánh giá là kì quan thiên nhiên của thế giới.

Theo kết quả khảo sát của các nhà thám hiểm hang động Hội Địa lí hoàng gia Anh thì hang Vòm còn kì vĩ hơn động Phong Nha và chiều sâu hang này lên đến 28 km! Nếu du khách ngồi thuyền ngược sông Chày lên phía Tây, dọc hai bên bờ sông là những hang động trổ cửa ra bờ sông mà ngắm cảnh trí ngoài hang thì thật quyến rũ chẳng kém Phong Nha. Với màu nước sông xanh đến mê hồn, hai bên vách đá dựng đứng sừng sững cao tới hàng trăm mét sẽ tạo cho khách cái cảm giác mạo hiểm rờn rợn không thể nào quên.

Đi ngược sông Chày còn gặp một vùng nước lạ sau thác Trộ Mợng, nơi dòng chảy của sông gặp núi đá vôi lặn xuống thành sông ngầm, rồi lại hiện lên sau núi đá. Tại vùng nước này, nhân dân địa phương đã phát hiện ra một loài cá chép lạ đặt tên là cá Quảng Bình.

Còn trên những vách đá dựng đứng cheo leo là những bầy voọc chuyền thoăn thoắt qua cành cây. Từ động Phong Nha băng qua vách núi dựng ấy (nếu đi tour mạo hiểm) hoặc chạy xe trên đường 20, du khách sẽ gặp một thung lũng rộng hàng trăm hecta, có tên Sinh Tồn. Đó là một đồng cỏ bằng phẳng giữa bốn bề núi dựng mà vây quanh nó là những cánh rừng nguyên sinh với những thân cổ thụ vút thẳng, dưới tán rừng là thảm lá khô dày, hoàn toàn không có cây bụi hay dây leo.

Sắp tới, nhà nước sẽ đầu tư cho khu du lịch sinh thái tại đây với tổng kinh phí lên đến hàng trăm tỉ đồng. Một trung tâm cứu hộ động vật hoang dã sẽ được xây dựng và những loài chim thú quý hiếm sau khi được cứu sẽ thả trở lại rừng. Du khách có thể quan sát chúng từ những chòi cao. Các công trình như khách sạn, sân golf… đang được tập trung xây dựng ở vùng đệm của vườn quốc gia.

Phong Nha – Kẻ Bàng có một hệ động thực vật phong phú vào bậc nhất trong các vườn quốc gia tại Việt Nam (26/67 loài thú ở đây được ghi vào sách đỏ). Ngoài ra, Phong Nha – Kẻ Bàng còn có những địa danh gắn liền với cuộc kháng chiến chống Mĩ như bến phà Xuân Sơn, sân bay Khe Cát, hang “Tám Cô”… cùng những cổ tự Chăm bí ẩn trong các lòng hang động hay huyền thoại về kho báu của vua Hàm Nghi thời cần Vương chống thực dân Pháp.

Khu du lịch Phong Nha hiện nay đã có hệ thống dịch vụ khá chu đáo như khách sạn, cửa hàng bán đồ lưu niệm, phòng hướng dẫn… Sau một ngày thăm thú hang động, du khách sẽ về Đồng Hới nghỉ đêm.

Nếu tham gia tour du lịch dài ngày thì quý khách sẽ kết hợp du lịch hang động, du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm và tìm hiểu văn hoá của các dân tộc thiểu số… Phong cảnh sơn thuỷ hữu tình sẽ níu chân du khách trong những đêm ở vùng sơn cước này.

Du khách nghỉ đêm trên con thuyền đôi chắc chắn, rộng rãi đủ chỗ cho khoảng dăm bảy chục người. Con thuyền có thể thả trôi theo sông Son Đềnghe những làn điệu dân ca rẻo cao hay xem các nghệ nhân làng tuồng Khương Hà (một gánh tuồng nổi tiếng của Quảng Bình) biểu diễn. Trên thuyền có đủ rượu cần với cá sông Son. Đây là những món ăn du khách sẽ nhớ đời. Du khách vừa uống rượu vừa ngắm trăng thượng huyền đổ bóng trên sông Son và nghe bài Sơn nữ ca loang trên khói sóng: Một đêm trong rừng vắng, ánh trăng chênh chếch đầu ghềnh thấp thoáng…

Sau khi tham quan Phong Nha, nhà thám hiểm Hao-ớt Lim-be, trưởng đoàn thám hiểm Hội địa lí Hoàng gia Anh đã phát biểu: Với kinh nghiệm của mười sáu năm thám hiểm hang động ở tổ chức nghiên cứu hang động mạnh nhất của Hoàng gia Anh, tôi khẳng định Phong Nha là hang động dài nhất và đẹp nhất thế giới. Trong báo cáo khoa học của đoàn thám hiểm nói trên, động Phong Nha có bảy cái nhất: hang động dài nhất; cửa hang cao và rộng nhất; bãi cát, bãi đá rộng và đẹp nhất; có những hồ ngầm đẹp nhất; hang khô rộng và đẹp nhất; thạch nhũ tráng lệ và kì ảo nhất; sông ngầm dài nhất.

Kính thưa quý khách!

Chúng ta đã được nhìn thấy tận mắt vẻ đẹp kì thú của động Phong Nha. Động Phong Nha chỉ là một trong nhiều danh lam thắng cảnh của đất nước Việt Nam. Tôi tin rằng những chuyến du lịch bổ ích như thế này sẽ phần nào giúp cho quý khách hiểu thêm về cội nguồn của lòng yêu nước thiết tha, mãnh liệt của dân tộc Việt Nam.

Chúng tôi vô cùng tự hào về giang sơn gấm vóc của mình và mong ước rằng cả nhân loại sẽ sống vui vẻ, hoà bình trong môi trường thiên nhiên tuyệt đẹp mà tạo hoá đã hào phóng ban tặng cho loài người.

Xin cảm ơn quý khách đã lắng nghe! Xin chào và hẹn gặp lại!

Nguồn:

Vận may của bạn tháng thứ mười hai (từ 6/1 đến 3/2)

Tháng cuối cùng của năm cũ rất tốt với tuổi Sửu, Dần, Ngọ, Dậu và Mùi. Tuổi Tý Mức năng lượng sụt giảm khiến bạn cảm thấy mệt mỏi và dễ ốm. Ngôi sao Bệnh tật #2 cũng mang tới nguy cơ tai nạn, đặc…

Thích “thả thính” người khác, cô gái sững sờ khi thấy người thích mình có bạn gái mới

Mới tuần trước Tiến còn ngỏ lời yêu với Hương và chỉ sau một tuần, anh đã đăng ảnh đi chơi cùng người yêu trên Facebook. Thuộc diện hoa khôi của công ty, Hương có không ít chàng trai theo đuổi nhưng cô chẳng chấp…

Kiếm bội tiền mỗi tháng, cuối cùng, chồng ném cho tôi tờ đơn ly hôn đầy cay đắng…

Ngoài xã hội, tôi tự hào vì mình là người đàn bà giỏi giang, kiếm bội tiền, xinh đẹp, giao tiếp tốt… Thế nhưng cuối cùng, tôi cũng chỉ kẻ thất bại khi bị chồng bỏ. Đớn đau hơn nữa, anh quyết định rời xa…

Copyright © 2018 Xuân Hải Ml