Xuân Hải Ml

Xuân Hải Ml

Thuyết minh về tác phẩm Số Đỏ dựa vào nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng

BÀI LÀM

Lịch sử văn học Việt Nam chưa có một.tiểu thuyết nào gây được một phản ứng xã hội kịch liệt như tiểu thyết Số đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng. Số đỏ xuất hiện đột ngột giữa làng văn như một tiếng sét xé trời mà thanh âm của nó chắc chắn sẽ còn vang vọng mãi. Xuân Tóc Đỏ (nhân vật chính trong tác phẩm) trở thành một nhân vật điển hình trong số rất ít các nhân vật điển hình của văn học Việt Nam. Với Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã trở thành đại diện xuất sắc bậc nhất của dòng văn học hiện thực phê phán thời kì 1930 – 1945 ở Việt Nam. Thành công của tác phẩm trước hết là bởi một nghệ thuật trào phúng sắc bén bậc thầy của nhà văn mà qua đó xã hội Việt Nam đương thời hiện lên với dầy đủ những tàn tật, dị dạng, những tiêu cực, tệ nạn. Chương cuối cùng của tác phẩm Xuân Tóc Đỏ cứu quốc tuy chưa là chương hay nhất của tác phẩm nhưng lại là chương điển hình nhất cho hiện thực xã hội lố lăng, bịp bợm đương thời.

Chương truyện là bước phát triển cao nhất cho cái nhà văn gọi là “sô đỏ” của thằng Xuân. Từ một tên ma cà bông hạn bét ở đầu tác phẩm giờ đây chóng vánh trở thành một vĩ nhân đầy hào quang chói lọi. Một sự thăng tiến đến chóng mặt, tưởng như đầy rẫy sự vô lí nhưng đặt trong hoàn cảnh xã hội lúc ấy lại có thể xảy ra được. Suy cho cùng, cái “Sô đỏ” của thằng Xuân không chỉ hoàn toàn là cái may do khách quan (mà cụ thể là cái xã hội thượng lưu đểu giả đương thời) đưa lại, mà nó bắt nguồn từ bản chất mất dạy, vô giáo dục, vô văn hóa, xỏ lá đểu cáng, háo danh háo sắc của y. Nói cách khác cái bản chất của thằng Xuân chính là điều kiện cần và hoàn cảnh xã hội là điều kiện đủ để cái “sô đỏ” của y có thổ phát triển rực rỡ huy hoàng, đạt đến giá trị cực đại của nó. Trong chương truyện cuối cùng của tác phẩm, Xuân Tóc Đỏ đã đáp ứng một cách xuât sắc đầy đủ những yêu cầu mà xã hội đương thời đặt ra đê bước tới danh hiệu cao quý “vĩ nhân”, “anh hùng cứu quốc”. Có thể nói Xuân Tóc Đỏ là kết tinh, là điểm hội tụ tập trung của mọi thói tật, mọi tệ nạn xã hội. Nhưng mỉa mai thay, chính sự hội tụ bỉ ối ấy lại đưa nó đến đỉnh cao danh vọng. Xuân Tóc Đỏ là con người của tệ nạn nhưng cũng lại là con người của hào quang. Suy cho cùng cái chất trào lộng của ngòi bút Vũ Trọng Phụng phát khởi từ đây, từ một nghịch lí mà hợp lí, từ một sự phi lí mà có thật. Đó là cả một sự đối chọi đầy chua chát mà chì có ngòi bút hiện thực của Vũ Trọng Phụng mới vạch ra trần trụi. Cứ như những tình tiết xảy ra trong tác phẩm, đặc biệt là ở chương cuối, người đời có thể rút ra một quy luật tiến thân lạ lùng nhất trong đời, chỉ có thể xảy ra ở cái xã hội thời ấy mà thôi, quy luật ấy là càng bịp bợm. Càng vô văn hóa, càng xổ lá ba que, càng dâm loạn thì cơ hội tiến thân càng rộng mở.

Nhìn lại con đường tiến thân của Xuân, ta thấy rồ hơn điều đó. Dầu tiên y chỉ là một đứa trẻ mồ côi và mất dạy, hư hỏng, rồi một tên ma cà bông hạng bét, cơm thừa canh cặn, là chạy cờ rạp hát, bán thuôc tây đểu trên tàu xe, tiếp đèn là thằng nhặt banh trên sân quần vợt. Sau một “tai nạn nghề nghiệp” bệnh hoạn và trở nên thất nghiệp, có ai ngờ rằng cái số đỏ của y bắt đầu “liên tục phát triển” kê từ đây. Do chi tiết biêu hiện tính dâm đãng của y (cụ thể là nhìn trộm phụ nữ thay quần áo – một thói quen cố hữu, một đặc tính xấu xa ngay từ nhỏ của y) mà y lọt vào “mắt xanh” của mụ me Tây bệnh hoạn, rửng mỡ có cái tên là bà Phó Đoan. Từ đó con đường công danh của y phất lên như diều gặp gió bởi y đã bước vào vòng quay của xã hội thượng lưu. Đầu tiên người ta gọi y là sinh viên trường thuốc vì đã có công giết chết một lão già trăm ngàn lần đáng chết. Tiếp sau đó người ta còn gán cho y những cái tên nghe thật sướng tai nào là nhà cải cách xã hội, nào là giáo sư quần vợt và hàng chục vị hàm cao cấp khác trước khi đến đích cuối cùng là một vĩ nhân,

một anh hùng cứu quốc. Một con người với tài năng hiếm có và một cách vô ý thức, từ chỗ là công cụ cho người khác, cho xã hội lợi dụng dần dần với bước của “chó sói gửi thân”, y đã lợi dụng trở lại, dùng xã hội làm công cụ tiến thân một cách đầy toan tính.

Có thể xem mỗi chương trong Số đỏ là một màn sân khâu mà ở đó các xung đột diễn ra đầy kịch tính. Nếu như ở các chương trước chỉ là những màn kịch vi mô với các mâu thuẫn diễn ra trong gia đình cụ cốHồng, một tập hợp các thành viên đầy khập khiễng và thằng Xuân thì chương cuối này là một màn kịch mang tầm vĩ mô, một màn kịch “bách khoa toàn thư” về xã hội Việt Nam đương thời, một màn đại hài kịch tạp-phê-lù huy động tôi đa mọi nhân vật vào các vai diễn. Đó là từ vua ta tới vua Xiêm, từ quan thông sứ tới quan toàn quyền, từ các ông Tây bà đầm cho tới các thượng lưu trí thức, từ cái con mẹ me Tây góa phụ cho chí mấy ông thầy chùa, từ các ông thầy tướng số tới các chủ khách sạn, từ các ông chồng bị cắm sừng cho tới các cô gái tân thời quyết giữ chữ trinh tiết với hai người trở lên… Tất cả chừng ấy “nhân vật” lộn xộn, bừa bãi đều được lôi sềnh sệch vào một màn hí trường hài hước nhốn nháo, lố bịch, kệch cỡm, tạp nham hết sức. Kính thưa các loại phế phẩm, kính thưa các loại phụ phẩm phế liệu, kính thưa các hạng người… đều được Vũ Trọng Phụng nhồi nhét vào màn kịch trào phúng cỡ bự của mình một cách xô bồ, tự nhiên và sinh động đến lạ thường. Cái xã hội tật Nguyễn ấy chưa bao giờ mang tính quái thai đến thế, chưa bao giờ động cỡn đến thế. Dưới ngòi bút trào lộng sắc bén, Vũ Trọng Phụng đã vạch trần tất cả những tệ nạn bản chất nhất của cái xã hội bịp bợm “chó đểu” ấy. Nhà văn đã phá vở tung tóe tất cả những tỉ lệ hiện thực, làm lộn tùng phèo hết thảy những giá trị vốn có để gây nên chất trào lộng cho tác phẩm. Nó thê hiện ở một lôi hành văn đặc biệt, khi nói về cái hình thức bên ngoài, cái mã cái vỏ thì thậm xưng, tăng lên đến mây xanh, ngay sau đó nhà văn lại ném phịch nó xuống mặt đất bằng chính cái bản chất của nó. Cái hình thức bôn ngoài thì lớn lao, to tát, hùng hồn nhưng cái ruột thì lại thảm hại như một cách tiêu điều, đến tội nghiệp. Cuộc tiếp kiến lịch sử giữa vua ta và vua Xiêm được khoa trương với những từ ngữ đại hoa mĩ: nào là “Nước Việt Nam hồi xuân”, nào là “Một chỗ rẽ trong lịch sử”, nào là “Việt – Xiêm thân thiện”, “hai vua tại một nước”, nào là “một cái hân hạnh đặc biệt cho bình dân Việt Nam: cả vua Xiêm nhân dịp thân hành sang chơi với ta” nào là “hai nước Xiêm – Việt từ nay bắt tay nhau trên dường tiến bộ”. Tưởng là vua ta với vua Xiêm cùng nhau hội đàm, cùng nhau luận bàn việc nước hóa ra lại đi lông bông để cho dân chúng Hà Thành có dịp ngồi lê đối mách. Cuối cùng vì tinh thần thế thao chân chính, cả hai ngài cùng đến xem một trận đấu quần vợt. Vũ Trọng Phụng đã khéo léo đưa chuyện, dần chuyện để người đọc thấy được cái hệ trọng hàng mà của hai vị “thiên tử”. Chính sự khập khiễng ấy đã lập tức gợi lên cái chất hài hước cho câu chuyện.

Việc Xuân Tóc Đỏ, một tay vợt nghiệp dư, được mời ra tranh tài với tài

tử Luang Prabahot, quán quân quần vợt Xiêm La, không chỉ là một sự chỉ định tình cờ mà là kết quả của một sự xếp đặt, của một mưu ma chước qui sặc sụa chất vị kỉ, điển hình cho cái thói thắng nhân ố kỉ của Xuân Tóc Đỏ. Y đã tương kế tựu kế để làm hại hai nhà quán quân Hải và Thụ ở bót để hãnh diện tiến ra sân theo lời mời cùa đích vị Tổng cục trưởng tống cục thể thao Bắc Kì. Chính vì thế, Xuân Tóc Đỏ và ông bầu Văn Minh của mình trở thành đại diện Hà Thành để giữ cái danh dự cho Tố quốc.

Điều hài hước nữa là từ vua Xiêm và vua ta cho chí các quan Pháp đi xem thể thao nhưng lại thế hiện những hành vi, thái độ phi the thao đến nực cười. Vua Xiêm lại quá máu me ăn thua, sần sàng đem vận mệnh đất nước ra để đổi lấy chuyện thắng thua trong một quán quần vợt vô bổ. Trong khi đó vua ta thì chỉ cốt, đánh lấy… thua. Và chí thị ấy đã được ban tới tai Xuân Tóc Đỏ và kết cục ai cũng rõ là chiến thắng thuộc về Luang Prabahot, quán quân quần vợt Xiêm La và đức vua Xiêm S.M.Prafadophick. Huống nổi, sự hi sinh cao cả của bậc đại nhân, đại tài lại không được quần chúng thấu hiểu. Xuân Tóc Đỏ và Văn Minh bị lâm vào một nỗi oan Thị Mầu. Quả thua ngỞ ngẩn và khó hiểu của Xuân đã làm khán giả, những người sẵn sàng tự tử bằng cách hút thuốc phiện không có dâm thanh vì không mua được vé vào cửa, nổi cơn thịnh nộ. Họ hò hét “Quốc sỉ! về nhà bò! Di về nhà bò đi!” rồi “Abas Xuân! Abas Xuân! Dcsexplications!” (Đả đảo Xuân! Đả đảo Xuân! Hãy giải thích). Đáng thương thay, tội nghiệp thay cho Xuân Tóc Đỏ, oan ức thay cho y vì quần chúng “trẻ người non dạ”, “nông nổi” không thâu tỏ nổi tấc lòng trung hậu cao thượng của y.

Tất, cả những sự hiểu nhầm ấy đều tan biến bởi một bài thuyết giáo “cố lai hi” của y. Hãy xem những lời lồ trịnh thượng và nực cười đen nhường nào: “Hỡi quần chúng! Mi không hiểu gì, mi oán ta, ta vẫn quý mi mặc dù mi chẳng hiểu lòng ta!”. Trời đẩt hỡi cách xưng hô của bậc vĩ nhân mới độc đáo làm sao, độc đáo một cách tuyệt đối khiến người đọc không còn gì để bình thêm nữa, không có gì chê bai, khen tụng nữa. Nhưng chưa hết, để kết thúc bài hùng biện của mình, Xuân Tóc Đỏ dõng dạc: “Thôi giải tán đi, và cứ việc an cư lập nghiệp trong hòa bình và trật tự! Ta không dám tự phụ là anh hùng cứu quốc nhưng ta đã tránh cho mi cái nạn chiến tranh rồi. Hòa Bình vạn tuế, Hội Quốc Liên vạn tuế!”. Khỏi phải bàn những lời lẽ đã đưa hắn lên vị trí vĩ nhân, anh hùng cứu quốc, là thần tượng của “mi”, như cách gọi của bậc vĩ nhân Tóc Đỏ ấy. Bài thuyết giáo của y đã khai sáng đầu óc đám quần chúng tôi như hũ nút. Thê rồi thiên hạ sốt sắng hô to: “Xuân Tóc Đỏ vạn tuế, sự đại bại vạn tuế”. Sau đó là những lời chúc tụng lu bù, những vinh quang ập đến với Xuân một cách đột ngột. Chính phủ Pháp và An Nam tặng huân chương danh giá, được mời làm cố vấn báo Gõ mõ, là hội viên hội Khai trí tiến đức, đón mừng lời chúc tụng của cảnh sát giới mà cụ thể là Min Đơ, Min Toa, của các chủ khách sạn mà đại diện là Victor Ban, rồi bà Typn thay mặc cho chị em phụ nữ và đặc biệt là ông Phán thay mặc các

Qgười chồng mọc sừng. Tưởng như đã hết thì cuối cùng còn “nẩy nòi” ra ông thầy tướng sô chao ôi là vinh quang nhọc nhằn.

Buồn cười hơn cả là hình ảnh Xuân Tóc Đỏ hứa hẹn xin cho bà Phó Đoan một cái bảng “tiết hạnh khả phong”. Trời ơi, một chi tiết đắc địa đến lạnh người. Một con me Tây dâm loạn, lẳng lơ đỏng đảnh và rửng mỡ, đối lập hoàn toàn với bôn chữ cao quý ấy. Những chi tiết như câu gắt “Nước mẹ gì” của thằng vĩ nhân Xuân lại được khen rối rít và hứa hẹn đưa vào từ điển Đại Việt. Đặc biệt vừa nghe được chính phủ tặng bội tinh, cụ Hồng đã hô to “Bay dân, bày hương án” một gia đình gia phong nề nếp đến thế là cùng. Cách xưng hô “toa”, “moa” của bố con nhà Văn Minh cũng “văn minh” và nực cười đến chừng nào. Việc lẩy ra những sự tương phản, những điều lố bịch chính là để ta thấy rõ hơn cái bản chất băng hoại, suy đồi, sự phá sản hoàn toàn của các giá trị đạo đức truyền thòng. Chính lôi viết tương phán ấy là một nét trong nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng.

Những lời bình, những lời thể hiện trực tiếp thái độ của nhà văn song hành với lời kể của câu chuyện. Chẳng hạn như một bậc vĩ nhân nhũn nhặn, nó giơ quả dấm chào loài người, hay với tài hùng biện của một người đã thổi loa cho hiệu thuốc, với cái tự nhiên của một anh lính chạy cờ rạp hát lại được ông bầu Văn Minh đĩa kèn, Xuân Tóc Đỏ đã chinh phục quần chúng như một nhà chính trị đại tài. Thường thì nhà văn tả chân, nhà văn hiện thực tối kị việc đưa ra những lời nhận xét. Nhưng với Vũ Trọng Phụng thì khác, ông là một nhà văn châm biêm đả kích, là một nhà văn hiện thực đi đối với trào lộng phê phán. Những lời nhận xót của ông vừa mang đâm chất cười dân gian, vừa “humour” một cách trí tuệ, lại vừa gay gắt, chua chát. Đấy cũng là một Đặc điểm trong nghệ thuật trào phúng của ông, dưới ngòi bút đó, tất cả đều hiện nguyên hình với bộ mặt thật bỉ ổi. Với những phẩm chất như vậy, ông xứng đáng trở thành nhà văn hiện thực lớn và văn chương ông đúng là “sự thực ở đời” như ông từng quan niệm.

ĐỀ: Hạnh phúc cua một tang gia (’Chương XV tác phẩm số dó của Vũ Trọng Phụng) là một màn kịch hài đặc sắc.

Em hãy phân tích dể làm sáng tỏ nhận xét trên._______________________

BÀI LÀM

Số đỏ là cuốn tiểu thuyết trào phúng được viết theo khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa. Tác phẩm đã phát huy cao độ tài năng châm biếm, đả kích sắc sảo cua Vũ Trọng Phụng. Thói căm ghét của ông đối với xã hội thối nát không còn là một lời chửi rủa nửa mà nổ ra thành một trận cười sáng khoái, có sức công phá mạnh mẽ tung vào giữa những cái lố bịch, kệch cỡm, nghịch lì của xã hội đương thời. Dưới ngòi bút kì tài của Vũ Trọng Phụng, chương nào đoạn nào cũng thú vị, hấp dẫn như một màn hài kịch trọn vẹn, Đặc biệt và điển hình hơn cả là chương Hạnh phúc của một tang gia.

Với chương này của tác phẩm Số đỏ, khuynh hướng hiện thực trào phúng thể hiện trong văn chương của Vũ Trọng Phụng có thể nói là đạt đến mức hoàn mĩ như chính nhận xét của Vũ Trọng Phụng nhằm đáp lại lời công kích của Nhất Linh năm 1937 ‘‘khi dùng một chữ bẩn thiu tôi chẳng thấy khoái trá như khi các ông tìm dược một kiểu áo phụ nữ mới mẻ, những lúc ấy, tôi chỉ thương hại cái nhân loại ô uế bẩn thỉu, 11Ó bắt tôi phải viết như thế, và nó bắt các ông phải chạy xa sự thực bằng những danh từ diêu trá của văn chương… Đó, thưa các ông, cái chỗ bất đồng ý kiến giữa chúng ta! Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiếu thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết dó là sự thực ở đời…”

Theo tinh thần và tâm huyết đó, ngay trong đầu đề của chương truyện, tác giả đã gởi gắm, tạo ra một tiếng cười châm biếm về cái nghịch lí lạ lùng của nhân tình thế thái. Một gia đình có tang, ở đây là đại tang thì tâm trạng của những người trong gia đình ắt hẳn phải là thương tiếc, sầu não. Đằng này, họ lại hạnh phúc, “Hạnh phúc của một tang gia”! mới nghe có vẻ ngược đời nhưng suy ngẫm kĩ, đọc hết toàn chương, đặt trong hoàn cảnh cụ thế của gia đình này, thì điều hạnh phúc ấy lại hoàn toàn hợp lí, chân thực. Vũ Trọng Phụng sắc sảo trong tiêng cười châm biếm là ở chỗ ấy. Nghịch lí mà hợp lí. Tưởng cường điệu, phóng đại mà lại rất chân thực, chân thực đến cụ thể.

Thật vậy, ở đám tang cụ tổ, gia dinh này ai cũng vui như Tết. Mỗi người, tùy theo quan hệ thân thuộc, sẽ có những hạnh phúc, sự thỏa mãn khác nhau. Ai ai cũng thấy đây là dịp may để họ có thể đạt một nguyện vọng, một ý đồ nào đó.

Cậi chết của cụ tổ, như vậy, dưới mắt của Vũ Trọng Phụng chính là một tình huông điển hình giúp nhà văn xây dựng những tính cách đặc sắc. Qua tính cách này của những người có quan hệ ruột rà với cụ tổ, Vũ Trọng Phụng sẽ có dịp bộc lộ, vạch rõ chân tướng nhố nhăng, lố bịch, thiếu tình người của những hạng người mang danh là thượng lưu, quý phái, văn minh tân thời nhưng thực chất là những cặn bã, quái thai của cái xã hội dở Tây dở ta buổi ấy.

Cái chết của cụ chẳng làm cháu con nào thiếc thương, bới đã từ lâu. họ mong cụ chết cho nhanh để chia gia tài. Chính vì thủ’, cái chết của cụ sẽ đem đến cho họ một niềm vui to lớn, không che giấu hạnh phúc. Ta hãy nghe Vũ Trọng Phụng trần tình: “Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm… “Bọn con cháu vô tâm ai cũng vui sướng thỏa thích …” Người ta tưng bừng, vui vẻ di đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma,… tang gia ai cũng vui vẻ cả”…

Trước hết là cậu tú Tân, cháu nội cụ tổ rất hào hứng, phấn khới vì cậu có dịp trổ tài và sử dụng “mấy cái máy ảnh mà mãi cậu không dược dùng đến”. Vợ Văn Minh (cháu dâu) mừng rỡ vì sẽ “được mặc đồ xô gai tân thời”, và đội “cái mũ mẩn trắng viền đen”… để quảng cáo cho một kiểu đồ tang tân thời!

Người con trai của cụ tố’ sung sướng vì một lí do khác lớn hơn. Cụ cố Hồng “mơ màng đến cái lúc cụ mặc dồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu” để cho thiên hạ bình phẩm, ngợi khen: “úi kìa, con giai nhớn đã già dến thế kia kìa!”

Văn Minh (cháu nội) đã từng du học bôn Tây bao năm, về nước không có lấy một mảnh bằng, chỉ nhăm nhăm nghĩ tới chuyện chia gia tài thì thích thú ra mặt vì “cái chúc thư kia sẽ vào thời kì thực hành chứ không còn là lí thuyết viển vông nữa”. Riêng người cháu rể (Phán mọc sừng) thì khấp khởi, sướng rơn trong bụng vì đã được bố vợ “nói nhỏ vào tai rằng sẽ chia cho con gái và rể thêm một số tiền là vài nghìn đồng. Chính ông ta củng không ngờ rằng giả trị đối sừng hươu vô hỉnh trên đầu ông ta mà lại to đến như thế”. Không khí của đám ma là không khí của một ngày hội. Đây cũng chính là mâu thuẫn trào phúng gây cười ra nước mắt, xuyên suốt hoạt cảnh, tình huông.

Đám ma cũng là dịp hiếm có để trưng bày và quảng cáo các mốt quần áo âu hóa mới nhất của tiệm may vợ chồng Văn Minh – sản phẩm độc đáo của nhà thiết kê mĩ thuật Typn. Đó cũng là dịp đổ cô Tuyết với bộ y phục “Ngây thơ” hỞ hang với nét mặt cố tạo một “vẻ buồn lãng mạn rất dứng mốt một nhà có dám”, khiên cho bao nhiêu vị khách đàn ông “khi trông thấy làn da tráng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực Tuyết” phải xúc động còn hơn nghe tiêng kèn đám ma.

Điều này còn lây lan sang cả những người không phải là thân thích, ruột rà. Những kẻ đi dự đám tang bao gồm đám bạn bò, quan khách. Họ đèn đám ma với đủ mục đích. Họ khoe mề đay, huân chương, những bộ ria mép. Nếu là đàn bà thì đó là dịp để họ đua nhau bình phẩm về người khác. Thật mỉa mai, họ làm tất thảy điều đó “bằng những vẻ mặt buồn rầu của những người di dưa ma” (!)

Người dân hai bên phố đồ ra xem đám ma như một sự lạ. Đám ma to đến nỗi những người trong tang gia cảm thấy hết sức “sung sướng” và hàng phô “nhõn nháo lên khen dám ma to”. Lúc bây giờ, nhà văn lạnh lùng bình luận:

“Dám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái dầu…!”. Thật là mỉa mai. chua xót.

Song song với miêu tả, ngòi bút sắc sảo, nghiêm lạnh của nhà văn trưng lên liên tiếp những chân dung, những tình huông. Đó là những bức biêm hoạ bằng ngôn ngữ giúp người đọc nhận ra chân tướng xã hội, chán tướng những người được mệnh danh là thượng lưu, quý tộc. Ông giúp người đọc nhận ra rằng, đám ma to tát kia quả là có đủ cả nhưng chi thiêu duy nhất một điều, và điều này lại là điều quan trọng nhất, đó là tình người. Thông điệp nhân văn của tác phẩm trở nên rõ ràng sau tiếng cười trào lộng. Nếu con người thực sự thiếu tình người, lòng thương tiếc chân thành với người đã khuất thì đám ma dù lòe loẹt đến mức nào đi

nữa, to tát đến mức nào đi nữa, đó cũng chỉ là hình thức, giả dôi. Rõ ràng, thông điệp ấy không chỉ nhắm, vào thời đại của Vũ Trọng Phụng, tính thời sự của bức thông điệp này có ý nghĩa với tất cả chúng ta!

Mấy chi tiết đặc tả cảnh hạ huyệt càng mỉa mai, trào phúng. Nó được dàn dựng bởi một bàn tay đạo diễn non nớt, lộ liễu. Cậu tú Tân bắt từng người phải chống gậy, gục đầu, cong lưng lau mắt… đổ cậu chụp ảnh. Trong khi, bạn hữu của cậu “rầm rộ nhảy lên những ngôi mả khác mà chụp để cho ảnh khỏi giông nhau”.

Chất bi hài của cảnh được đặc tả làm bật lên tiêng cười… ra nước mắt. Rồi tiếng khóc đặc biệt, như một điệp khúc của ông Phán mọc sừng: “ông Phán oặt người di, khóc mãi không thôi”. Ỏng khóc: “Hứt!… Hứtỉ… ỉ lứt!…” Nêu có thố’ nói rằng, chi tiết làm nôn nhà văn lớn thì ở đây, chi tiết được đặc tả của Vũ Trọng Phụng đã đạt đến mức hoàn thiện.

Qua chương Hạnh phúc của một tang gia, Vũ Trọng Phụng đã thể hiện tài năng kế chuyện bậc thầy của một nhà văn chàm biêm trào phúng. Bút pháp của ông giỏi ở chỗ nêu nghịch lí mà hợp lí trong hoàn cảnh, mẫu người cụ thế. Phóng đại, hư cấu mà như thật. Ông chú ý đến sự đối kháng giữa hiện tượng và bán chất, sự thực và giả dối. Ổng khai thác triệt để, đầy góc cạnh nhằm tạo ra những tràng cười có ý nghĩa phô phán sâu sắc. Ông vạch rõ chân tướng của một lớp người, cảnh báo về sự băng hoại xã hội nếu xã hội vẫn tồn tại hạng người ấy. Bức thông điệp này lại được thể hiện bằng năng lực trào phúng sắc sảo của ông khiến cho giá trị của Số đỏ càng trở nên bền vững.

Có thể nói rằng, Sô đỏ là một bức biếm họa đầy chi tiết của một thời và một đời

Nguồn:

Bài văn hay thuyết minh về công việc đọc sách của tác giả Thu Thảo

BÀI LÀM

Một câu hỏi được đặt ra: Vậy sách là gì? Câu trả lời thật đơn giản, về hình thức, sách là một tập hợp của những trang giấy có chữ, có nghĩa, được sắp xếp theo một trình tự nhất định. Mỗi quyển sách mang một nội dung khác nhau, về ý nghĩa, sách là nơi lưu trữ kiến thức dể truyền lại cho con người những hiểu biết về thế giới xung, quanh. Sách thể hiện tư tưởng tiến bộ; sách lưu trữ kiến ~ thức của con người.

Đọc sách có ích lợi gì? Đọc sách đưa ta đến sự hiểu biết về thế giới, về vũ trụ, về lịch sử, nguồn gốc của con người, về lịch sử sự hình thành vũ trụ… Hiểu biết hơn về xã hội, về khoa học tự nhiên, về dất, về nước… sẽ giúp ích cho ta rât nhiêu trong cuộc sống. Rất nhiều nhà khoa học, nhà bác học, các danh nhân

nổi tiếng trên thế giới như Ê-đi-xơn, Lê-nin, Bác Hồ,… đều có được sự uyên thâm và sự thành công trên nhiều lĩnh vực là nhờ đọc sách. Sách như một người thầy, một người bạn trung thành dẫn dắt ta trên con đường học tập.

Chúng ta có thể đọc sách như thế nào? Gó rất nhiều cách: đọc sách tại nhà, đọc sách ở thư viện, có thể là thư viện nhà trường, thư viện thành phô” hay thư viện quốc gia. Chúng ta có thể dọc ở mọi lúc, mọi nơi, mọi chỗ. Sách hiện nay được bày bán trên thị trường khá rộng rãi, tuy nhiên không phải sách nào ta cũng mua mà cần phải chọn lọc kĩ càng để tìm ra cuốn sách nào là phù hợp nhất với mình. Khi đọc sách, ta cũng cần luyện thói quen ghi chép, nhớ và phải rút ra những kết luận, kiến thức cho bản thân. Cũnịg giống như khi ta xem những cuốn sách khoa học nói về những phát minh xuất phát từ một ý tưởng đơn giản nhưng đã giúp ích cho con người rất nhiều trong cuộc sông thì ta phải đúc rút ra một quá trình hình thành nên phát minh đó gồm những gì, bằng cách nào, vận dụng tính chất gì… để về’sau giúp ta có những sáng tạo lí thú hơn. Đọc sách chưa hẳn là đủ nếu ta không vận dụng những gì sách cung cấp cho mình về vốn hiểu biết, kiến thức vào cuộc sông. Và để đáp lại những ích lợi mà sách dành cho ta thì chúng ta cần phải giữ gìn, nâng niu, quý trọng, bảo vệ và bảo quản sách. Có như thê chúng ta mới lưu giữ dược cái kho tàng ấy lâu dài dược.

Đọc sách là một thói quen tốt nhưng không phải ai cũng làm được, không phải ai cũng đủ kiên nhẫn mà đọc hết cuốn sách dày đặc những chữ, nhất là thanh niên thời nay. Điều này thật đáng buồn, vì thế hệ cần đọc sách để tiếp nạp tri thức hơn cả là thế hệ thanh niên – những chủ nhân tương lai của đất nước. Tôi cũng hiểu cái cảm giác hoa mày, chóng mặt mỗi khi giở ra những trang đầu tiên của cuốn sách mà chỉ toàn chữ là chữ, trong khi thứ cuốn hút chúng ta bây giờ là truyện tranh, là trò chơi điện tử, là bóng đá,… Vì vậy, nêu bạn ngại đọc thì mỗi ngày, hãy bỏ ra một ít thời gian, đọc lần lượt từng trang một. Cứ thế, mỗi ngày bạn đọc được vài trang thì dần dần cũng sẽ đọc hết cả cuốn. Tuy nhiên, chúng ta cũng chớ ham quá mà quên ăn, quên ngủ, ở lì đọc sách và lười vận động sẽ không tốt cho sức khoẻ. Chúng ta nên đọc sách một cách hợp lí, nhất là lúc dầu óc thư thái, thời gian rỗi vì những gì bạn đọc được ở trong sách có như thế mới nhớ lâu được và không gây cho người đọc cảm giác chán nản.

Công việc đọc sách là một thói quen khoa học, cung cấp cho ta thêm sự hiểu biết về nhiều lĩnh vực. Đọc sách là một công việc đòi hỏi ở mỗi người sự Cần mẫn, kiên nhẫn và nhất là có ý chí cao. Chúng ta sẽ thấy đời đẹp hơn nếu đọc sách.

Nguồn:

Làm sáng tỏ vấn đề của nhà thơ Tố Hữu về văn học

Bài làm

“Văn học là nhân học”

Đại văn hào Nga, Maxim-Gorki, khẳng định như thế. Nhưng để cho người tiếp nhận tác phẩm văn học một cách thấu đáo như Gorki thật là một vấn đề rất khó. Đôi với những người dạy Văn, học Văn, ý kiên của Gorki có sức thuyết phục mạnh mẽ. Tương tự như Gorki, nhà thơ Tô Hữu đã nhắn nhủ thầy cô giáo cùng các em học sinh:

“Dạy Văn học, học Văn học là một niềm vui sướng lớn. Qua mỗi giờ Văn học, thầy, cô giáo có thể làm rung động các em, làm các em yêu đời, yêu lẽ sông và lớn thêm một chút”.

Như chúng ta đã biết, Văn học không như những môn khoa học tự nhiên khác: Toán, Lý, Hóa, Tin học,… Văn học là một bộ môn nghệ thuật rất khó. Văn học không những đáp ứng nhu cảu giải trí của con người mà còn cung cấp một lượng kiến thức khá phong phú cho chúng ta về tinh thần. Văn học giúp chúng ta biết yêu ghét, phân biệt phái trái; biết ca ngợi cái chân- thiện -mỹ, lên án cái độc ác, xấu xa…

Vì sao nhà tho’ Tố Hữu nói: “Dạy Văn học, học Văn học là một niềm vui sướng lớn?”.

Dạy Văn học là cung cấp kiến thức Văn học cho học sinh thông qua công tác truyền đạt của nhà sư phạm chuyên ngành. Các em học sinh trong quá trình soạn bài hoặc tìm hiểu tác phẩm, chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn. Tại giờ học Văn, thầy (cô) giáo sẽ giải thích, phân tích hoặc bình giảng một cách cặn kẽ, thấu đáo, giúp các em chưa hiểu hoặc ít hiểu đến chỗ hiểu cơ bản hoặc hiểu sâu sắc tác phẩm Văn học ấy. Để có được diều này, rất cần đến kinh nghiệm, năng lực của thầy (cô) giáo. Vì giáo viên và học sinh được tiếp xúc với những kiệt tác Văn học đặc sắc trong và ngoài nước nên họ cảm thây rất sung sướng. Hơn nữa, giáo viên cảm thấy tự hào bởi mình được phân công công tác trồng người, được giáo dục đàn em thân yêu, được đứng trên bục giảng, có cơ hội để thể hiện năng lực của mình… Còn học sinh được tiếp thu nguồn kiến thức quý báu của nhân loại, được học làm người qua các tác phẩm Văn học mà thầy (cô) giáo giảng dạy. Bởi vậy, các em cảm thấy hạnh phúc lắm.

Tại sao “Qua mỗi giờ Văn học, thầy (cô) giáo có thể làm rung động các em, làm các em yêu đời, yêu lẽ sông và lớn thêm một chút.’ ?

Có thề nói rằng, cuộc sống đời thường khá tất bật. Chỉ có đôn trường đến lớpmột môi trường sư phạm trong sáng – lại được các thầy cô giáo có năng lực và tâm b’ ‘.yết dìu dắt, tâm hồn các em học sinh được tập trung lắng đọng và mở rộng, nên các em cảm thấy say sưa, thú vị, trong giò’ học Văn. Từ đó, càng cảm, càng thấu hiểu tác -phẩm Văn học, tâm hồn các em càng dễ rung động.

Thuở còn cắp sách đến trường nghe thầy giáo đọc thơ, Trần Đãng Khoa thấy “đất trời đẹp ra”, thấy cuộc đời thật đẹp, thật đáng yêu:

“Em nghe thầy đọc bao ngày Tiếng thơ đỏ nắng, xanh cây quanh nhà Mái chèo nghe vọng sông xa Em êm nghe tiếng của bà năm xưa Nghe trăng thở động tàu dừa Rào rào nghe chuyển cơn mưa giữa trời Thèm yêu tiếng hát nụ cười Nghe thơ em thấy đất trời đẹp ra”.

Những học sinh có tâm hồn như Trần Đăng Khoa không phải là ít. Tâm hồn của các em thơ ngây, trong trắng và đẹp lắm! Chỉ cần “những kĩ sư tâm hồn” khơi gợi đúng nguồn là các em sẽ “lớn thêm một chút”, thậm chí tâm hồn các em còn cất cánh bay cao hơn nữa.

Đã một lần, trong giờ học nâng cao kiến thức bộ môn Văn dành cho học sinh lớp chuyên, em được thầy giáo giảng bài thơ sau đây của Tô Đông Pha (Tô Thức), một đại thi hào đời Tông:

“Rượu kia không uống sao say Ngựa di thì tấm lòng này cùng đi Em về bịn rịn đỉnh vi Anh nay an ủi bằng gi? Quanh côi!

Lèn cao ngoái lại nương đồi Mủ đen thấp thoáng khuất rồi lại nhô Áo đen mỏng, lòng anh lo Lo con ngựa Ốm quanh co trăng tà ơ, đi đáng lẽ vui ca,

Tiểu đồng sửng sốt sao ta quá sầu!

Biệt li có lạ gì đâu Chỉ e ngày tháng dãi dầu vụt trôi.

Nhớ xưa đèn lạnh đôi hồi Cái đêm hiu quạnh cùng ngồi nghe mưa Y này em đã nhớ chưa?

Quan cao chức trọng say sưa làm gi”.

(Hoa Bằng dịch)

Bài thơ miêu tả cuộc chia tay bịn rịn giữa Tô Đông Phạ với em T^ai là Tử Do – một tiên sĩ triều Gia Hựu. Tình cảm anh em của Tô

Dông Pha vô cùng thắm thiết. Tử Do đã lên yên ngựa vồ đi xa rồi mò Tô Đông Pha hãy còn trèo lên cao đế ngóng trông theo. Tiết trời rét lạnh, nghĩ đến Tử Do mặc áo lông cừu mỏng manh, đi bằng con ngựa gầy trong gió sương mà lòng dạ Tô Đông Pha xót xa. Cuộc chia tay nào mà chẳng buồn? Dù biết rằng thế nhưng Tô Đông Pha không muốn xa cách đứa em trai thân yêu lâu ngày dài tháng. Đứng trên cao nhìn ánh trăng tàn, Tô Đông Pha bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm xưa cùng em ngồi đối diện trước ngọn đèn, lặng lẽ đêm từng hạt mưa rơi. Mưa đêm ấy lạnh nhưng có em bên cạnh, lòng Tô Đông Pha cảm thấy ấm áp. Tô Đông Pha khuyên em đừng luyến tiếc quyền cao chức trọng, hãy sông một cuộc đời thanh bạch, hướng thượng. Bởi vậy, tiễn em đi rồi, Tô Đông Pha hãy còn lo lắng rằng em có nhớ lời anh dặn dò nhắn nhủ chăng? Thật đúng là “anh em như thể tay chân”.

Một điều chắc chắn rằng: nếu không có thầy giảng giải, phân tích bài thơ trên thì em không bao giờ hiểu hết nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đặc biệt là tâm sự của Tô Đông Pha, vì đây là bài thơ viết bằng chữ Hán. Chính vì hiểu thơ Tô Đông Pha, em lại yêu thích thơ Tống. Em cảm thấy thơ Tông vẫn mênh mông bát ngát tình, hàm súc, cô đọng như thơ Đường. Ngoài ra, lòng em vui sướng vì mình được tiếp thu thêm nhiều kiến thức mới mẻ, cổ điển, độc đáo. Tâm hồn em thật sự rung động trước tình anh em cao quý của Tô Đông Pha. Em xem bài thơ ấy là một bài học hay dành cho em về tình huynh đệ. Điều đó không chỉ là niềm vui sướng lớn đối với em mà còn là niềm hạnh phúc vô biên của thầy em.

Trong một buổi học nâng cao khác, em lại được thầy giáo giảng cho nghe kiệt tác Sô phận con người của đại Văn hào Nga Sôlôkhôp người từng đạt giải thưởng Nôben về Văn học năm 1965 với bộ tiểu thuyết Sông Đông êm đềm. Kiệt tác số phận con người gồm phần mơ đầu, phần kết thúc và ba chương: Chương I là tiểu sử của Xôcôlôp từ những năm trai trẻ đến thời gian chiến tranh vệ quốc bắt đầu. Những năm nội chiến, anh tham gia Hồng Quân. Năm đói 1922 cả nhà chết đói, chỉ mình anh đi làm thuê cho Culắc nên sống sót. Xôcôlôp làm nghề mộc, nghề nguội rồi lấy vợ, dần dần xây dựng được một gia đình hạnh phúc, có nhà cửa, vợ hiền và ba con. ơ chương II, chiến tranh bùng nổ, Xôcôlôp từ giã vợ con ra mặt trận. Anh bị phát xít bắt

làm tù binh, phải chịu đựng bao sự tra tấn dã man của kẻ thù. Cuối cùng Xôcôlôp chạy trốn khỏi trại tù, trở về với Hồng Quân, về đơn vị được ít lâu thì anh nhận được tin đau đớn: một trái bom của máy bay phát xít đã chôn vùi ngôi nhà cùng vợ và hai con gái của anh. ở chương III: một hi vọng mới sưởi ấm tâm hồn giá lạnh của Xôcôlôp: anh nhận được thư của người con trai lớn nay đã là một đại uý pháo binh. Khi chiến tranh sắp kết thúc, tiến quân gần đến Béc lin, Xôcôlôp chờ đợi giây phút bố con gặp nhau. Và anh đã được gọi đến đế nhìn mặt con lần cuối cùng, con trai anh đã bị tử trận vào ngày mồng chín tháng năm, ngày chiến thắng.

Điều mà em xúc động nhất khi được làm quen với tác phẩm này là đoạn nói về sự đau thương mất mát của con người do chiến tranh gây ra. Khi nghe thầy giảng đến đoạn Xôcôlôp trở về sau ngày hòa bình, em đã cố nén cho những giọt nước mắt chảy vào lòng. Xôcôlôp đã lần lượt mất tất cả trong chiến tranh, trái tim của anh không bao giờ như xưa nữa mặc dù có bé Vania – một đứa trẻ côi cút-sưởi ấm trái tim giá lạnh của anh. Xôcôlôp đã tâm sự: “Trái tim của tôi đã rệu rã lắm rồi… có khi tự nhiên nó nhói lên, thắt lại vào giữa ban ngày mà tối tăm mặt mũi… hầu như đêm nào tôi cũng chiêm bao thấy những người thân đã quá cố… ban ngày bao giờ tôi cũng trấn tĩnh được, không thở ra một tiếng thở dài, một lời .han vãn, nhưng ban đêm thức giấc thì gối đẫm nước mắt…”. Chiến tranh là như vậy đó! Tiếng súng đã im, bom đạn đã thôi rơi… Nhưng vết thương tâm hồn vẫn còn âm ỉ mãi, được dịp là nó tái phát đau nhói, không có sự bù đắp cũng như không có loại thuốc nào chữa khỏi.

Mặc dù giờ học đã kết thúc, thầy giáo rời lớp nhưng em vẫn còn nghe văng vẳng bên tai giọng nói ấm áp, dạt dào cảm xúc của thầy. Cũng như nhiều bài giảng văn khác, bài giảng về kiệt tác Số phận con người đã không những làm cho em mê say, thích thú mà còn mở ra trước mắt em một cái nhìn đồng cảm với cái nhìn mới đầy nhân bản của Xôlôkhốp trong kiệt tác này nói riêng và trong Văn học Xô viết đôi với chiến tranh nói chung.

Tóm lại, văn chương giáo dục chúng ta rất nhiều; có ích cho tư tưởng tình cảm của chúng ta. Cuộc đời sẽ đẹp đẽ biết bao khi văn chương sống mãi mãi với thời gian và những người dạy Văn học, học Văn học sẽ vui sướng biết bao khi được tiếp xúc, tìm hiểu một cách thường xuyên, sâu sắc với văn chương. Văn chương sẽ giúp cho chúng ta được phát triển toàn diện về nhân cách lẫn tâm hồn. Chúng ta hãy cố gắng học Văn để khám phá thế giới, nâng cao sự hiểu biết về con người, cuộc đời cũng như gìn giữ tư tưởng và bồi dưỡng tình cảm ngày càng trong sáng, tốt đẹp để vươn tới chủ nghĩa Nhân văn.

Nguồn:

Vài nết về đại thi hào dân tộc Nguyễn Du

BÀI LÀM

Nguyền Du (1765 – 1X20) tự là Tô Như, hiệu là Thanh Hiên, sinh trướng trong một gia đình dại quý tộc thời Lé – Trịnh, quê ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Có càu ca lưu truyền trong dân gian:

Bao giờ ngàn Hống hết cây,

Sông Rum hết nước, họ này hết quan.

Thuở nhỏ, ông sông trong nhung lụa, trước cửa lúc nào cũng “người người xe ngựa võng lọng chầu chực ngày ngày”, nhưng rồi gia cành sa sút dần. Cuối thòi Lê – Trịnh và đời Tày Sơn, ông trái qua “mười mĩm gió bụi”, lúc sống ở Tiền Hải quê vợ, lúc chạy về Nghi Xuân cô hương, ốm không có thuốc, mùa đông không có chăn mền, nếm đủ mùi tàn khổ.

Nguyễn Du chỉ dỗ tam trường nhưng cực kì uyên bác, tài hoa. Năm 1802, vua Gia Long triệu ông ra làm quan. Hơn mười năm sau đã được tháng chức Tham tri bộ Lể, dược cừ làm chánh sứ sang Trung Quốc (1813); năm 1820 lại được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc, chưa đi thì bị bệnh mất.

Nguyễn Du được tôn vinh là đại thi hào dân tộc, ông để lại nhiều thơ chữ Nôm và chữ Hán; gồm có: Truyện Kiều, Văn chiêu hổn, Thanh Hiên thi tập, Bấc hành tạp lục, Num trung tạp ngâm. v. v..

Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du,

Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày.

Nguồn:

Bài văn hay thuyết minh về đặc sản quê em

Bài làm

NẾP RỒNG QUÊ TÔI (Giới thiệu một đặc sản)

Vùng quê tôi, vụ chiêm chỉ toàn lúa tẻ. Vụ mùa có nhiều loại nếp, nhưng nối tiếng nhất là nếp rồng. Trong nam ngoài bắc, không ở đâu có loại nếp này, mà chỉ có ở Nghệ Tĩnh. Ngày nay ở Nghệ Tĩnh, chỉ bà con nông dân quanh vùng núi Hai Vai mới có tập quán lâu đời và cấy nhiều loại nếp rồng. Năng suất nếp rồng thấp so với các loại nếp khác, càng rất thấp so với lúa tẻ. Nhà nghèo, ít đất ruộng, không dám cấy. Chi nhữngnhà có chừng dăm sào trở lên mới dám dành một ít đế cấy.

Lúa nếp rồng nơ nhiều dảnh, to khóm, lá xanh đậm. Khi hạt đã bắt đầu ngậm sữa là mùi hương thoang thoảng bay lên. Khi hạt chín, đi qua thửa ruộng nếp rồng là biết ngay, hương thơm tỏa khắp cả một khoảng đồng. Trên đường làng, gánh nếp rồng theo người đến đâu là hương thơm đến đấy. Hương vương dọc bờ tre làng. Hương ướp lên mái tóc cô gái. Hương thấm đậm vào từng giọt mồ hôi.

Một nhà đồ xôi nếp rồng là tất cả các nhà láng giềng đều biết. Hơi bốc lên tỏa ngát qua bờ giậu, đánh thức khứu giác của mọi người một cách nhạy bén. Ngày giỗ, ngày tết nếu cúng xôi bằng các loại nếp khác, người ta đơm cả một cỗ đầy, lót lá chuối tươi, đặt ở giữa một con gà trống luộc. Nhưng nếu cúng bằng xôi nếp rồng, người ta chi đơm vào đĩa. Tại sao xôi nếp rồng chỉ đơm vào đĩa? Lẽ thứ nhất, vì nếp rồng hiếm. Lẽ thứ hai, là khi xôi nếp rồng nguội thì không được dẻo như các loại xôi nếp khác, cho nên người ta chỉ đơm đĩa đế

cúng tượng trưng, phần còn lại vAn ú nóng. Sau khi lô bAi tổ tiên, hạ mâm xuống, rá xôi được mở ra, mọi người ngồi xếp hằng xung quanh, xôi phả lên mùi hương đặc biệt khắp gian nhà càng làm âm áp thím tình nghĩa gia tộc.

Sự tích về hạt nếp rồng khá hấp dẫn.

Sau khi ông Đùng đã dẹp yên thú rừng, giặc giã và đã phân định đất đai cho các trang ấp, Trời sai chim thần bay về nhả hạt. Nhưng loại nếp rồng là đặc sản chỉ để dành cho những buổi lễ tê ử thiên đình, tuyệt nhiên không ai được dùng vào bất kỳ một công việc nào khác. Chim thần vô ý ngậm nhầm mấy hạt và đã thả nhầm xuống vùng đất ông Đùng ở núi Di Sơn, núi Hai Vai. Khi dân chúng nấu ăn, thấy bốc lên mùi thơm khác lạ, ai cũng nghĩ rằng Ngọc Hoàng thương dân vùng này vất vả, nên đã cho một loại hạt giống đặc biệt như thế. Ngờ đâu, cuối năm, ông Táo lên chầu Trời, tâu cho Ngọc Hoàng biết rằng: dân vùng Di Sơn có nếp rồng. Ngọc Hoàng bất chim thần hỏi tội và bỏ vào ngục, rồi sai một vị thần xuống trần gian đòi lại giống nếp rồng. Dân họp lại, cử một bô lão cao tuổi nhất đến khấn khoản xin thần. Thần lắc đầu: “Ta chỉ làm theo lệnh Ngọc Hoàng. Các người muôn xin thì lên tận thiên đình mà xin”. Thế lả vị bô lão đành phải mang cơm nắm với cà pháo muối, theo thần lên thiên đình.

Trước lúc bô lão đi, bà con họp bàn với nhau phải mang theo lễ vật quý như vàng, bạc, đá ngọc. Bô lão gật đầu: “Thế là phải đạo với thượng giói”. Tới nơi, bô lão lễ phép quỳ xuống phủ phục kêu xin: “Dân chúng tôi đói khổ quanh năm, chỉ có loại nếp rồng này là ngon nhất, trong một năm mỗi người chỉ được ăn một lần. Xin Ngọc Hoàng đừng lấy lại giống. Ngọc Hoàng cần gì, chúng con xin phụng”. Tiếp đó, bô lão mở khăn gói, dâng lên nào đá ngọc, nào vàng, nào bạc. Ngoe Hoàng lắc đầu: “Những thứ này ta có đầy kho, đầy lẫm, nhà ngươi hãy mang về, và đem giống nếp trả lại cho ta ngay”.

Bô lão buồn thiu, lủi thủi ngồi nghỉ ở cửa nhà Trời, giở cơm nắm ra ăn với cà pháo. Một tên thiên binh trông thấy, chạy vào thưa với Ngọc Hoàng: “Cái ông lão người trần kia đang ăn một quá gì rất giòn và ngon lắm”. Ngọc Hoàng liền sai thiên binh gọi lão vào: “Nhả ngươi đang ăn thứ quả gì?” Bô lão sợ hãi, giấu vội mấy quả cà vào túi:

“Dạ… dạ… Đây là thứ quả chỉ dùng để cho người nghèo ăn với cơm”. Ngọc Hoàng bảo: “Người đưa ta xem thử”. Bô lão tái xanh mặt, run run tay dâng lên mây quả cà. Ngọc Hoàng cầm ngắm nghía ra vẻ lạ lùng, rồi ăn thử. Bỗng gương mặt Ngọc Hoàng tươi tỉnh, mừng rỡ. Bô lão sướng đến run người. Không ngờ Ngọc Hoàng lại thích cái của khỉ 4 này! Ngọc Hoàng hỏi: “Ớ dưới trần có loại quả này à? Ngon lắm. Nhà ngươi về mang giông quả lên đây; ta sẽ không đòi lại giống nếp rồng”.

Thế là từ dó dân vùng Di Son được vĩnh viễn gieo cấy nếp rồng.

Ngày xưa, nếp rồng là loại nếp tiến cho nhà vua. Hạt nếp phải to, tròn, không hề có chút xây xát. Nhặt xong, nếp được đổ vào bốn cái thông sứ to vẽ hình rồng. Mỗi thống bốn người khiêng. Cả đoàn gồm chừng năm chục người đế thay nhau khiêng và một lý trưởng.

Dằng dặc ngàn dặm đường trường từ quê nhà tới kinh đô. Cơm nắm cơm đùm mang theo. Ê ẩm đôi vai. Rã rời đôi chân. Lắm lúc mệt mỏi, đói lả, hoa mắt, vẫn phải từng bước cẩn thận, nhỡ trượt chân, thống vỡ, nếp đổ, nhà vua biết được dễ bị chém đầu như chơi.

Người ta bảo “đi kinh một lần là già mất mười tuổi”. Có nhiều tráng đinh, lúc ra đi, thân hình vạm vỡ, lúc trở về, mặt mũi, chân tay hốc hác. Cuộc đời một con người chỉ dám một lần gánh nếp lên kinh tiến vua.

Chuyện cổ về hạt nếp rồng tôi SƯU tập được cách đây gần bốn mươi năm tại xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Của ngon thường hiếm. Năng suất nếp rồng và nhiều loại nếp khác thường thấp hơn nhiều so với gạo tẻ. Cho nên, nếp rồng và nhiều loại gạo ngon khác ở miền Bắc bị thu hẹp diện tích canh tác rất nhiều, có loại hầu như bị mất giống.

Chẳng lẽ nếp rồng chỉ thơm trong truyện cổ tích?

Một trí thức Pháp, từng ở Việt Nam trước năm 1945, gần đây có * quay lại Việt Nam. Vào ở trong một khách sạn, ông nói: “Tôi không cần thực phẩm nhiều, tôi chỉ cần một nắm xôi nếp rồng và một bát cơm gạo tám”.

Nguồn:

Thuyết minh về một nha khoa học

Bài làm

Các em có thế tham khảo bài viết sau đây về chân dung cua nhí) khoa học, một bác sĩ tài giỏi: Tôn Thất Tùng.

– Tôn Thất Tùng sinh ngày 10 – 5 – 1912 tại Thanh Hóa. Mới .‘1 tháng tuổi đã mồ côi cha, từ đó, ông theo mẹ về Huế và trải qua*tubi học trò tại kinh đô này.

Năm 1931, ông ra Hà Nội để học trường Bưởi rồi sau đó thivào trường Đại học Y khoa Hà Nội. Năm 1938, ông là sinh viên Việt Nam đầu tiên đỗ nội trú và được nhận làm phụ mổ cho giáo sư Mayyetme. Vừa mô tử thi, vừa mổ bệnh nhân, ông vừa quan sát với đầu óc phê phán những điều mà các ông thầy Pháp đã nhận xét không đúng vì không hiểu hết đặc điểm sinh học của cơ thế người Việt Nam vồ của các bệnh nhiệt đới. Chăng hạn, ông đã sớm phát hiện thây sỏi không chỉ năm trong túi mật mì) còn nằm nhiều trong gan, trong ống một,

trong phế quản, trong mạch máu.

Một buổi chiều mùa đông, trong khi mổ một tử thi, ông đã phát hiện thấy hàng chục con giun chui vào các đường mật ở gan. Thầy Huya rất ngạc nhiên vì trong gan sao có nhiều giun đến như vậy, nhưng bác sĩ Tôn Thất Tùng thì bàng hoàng vì nhân cơ hội này ông đã làm được một việc chưa ai từng làm: phân tích rõ ràng cơ cấu của các ông mật và mạch máu trong gan. về nhà tra cứu sách vở, ông ngạc nhiên thấy rằng từ thời Hipôrát đến lúc bấy giờ chưa có ai làm được như ông. Họ thường chỉ “cóp” của nhau hoặc mô tả theo trí tưởng tượng. Trong 5 năm liền (1935 – 1939) ông đã mổ hơn 200 cái gan, phẫu tích tỉ mi rồi vẽ lại thành sơ đồ để đối chiếu với nhau. Một phương pháp phẫu tích đặc biệt bằng nạo gan đã được Tôn Thất Tùng phát hiện từ năm mới có 23 tuổi.

Một hôm, có một bệnh nhân bị nghi là ung thư dạ dày nhưng mổ bụng ra lại thấy ung thư ở thùy gan bên trái. Ông và người thầy là Huya đã kẹp tố’ chức gan, kẹp các mạch máu và cắt bỏ thùy gan trái. Công trình nghiên cứu này được gửi về Viện Hàn lâm phẫu thuật Pari. Đáng tiếc thay, người ta lại phản đối vì cho rằng bệnh nhân bị ung thư gan coi chẳng khác gì người bị kết án tử hình, không nên mổ xẻ nữa, ngoài ra, chỉ nên dùng dao điện để cắt gan. Mùa thu năm 1941, lần đầu tiên ông khám phá ra nguyên nhân của bệnh phù tụy là do giun chui vào ống mật và một bệnh nhân 20 tuổi tên là Cúc Châu đã được ông mạnh dạn rạch ống mật chủ để lấy ra một con giun dài tới 15cm và cứu sống được anh. Từ đó về sau, hàng trăm, rồi hàng nghìn bệnh nhân đã tiếp tục được cứu sống bằng phương pháp này. Từ thực tế phát hiện thấy giun đũa gây viêm phù tụy hay gây sỏi đường mật ở người Việt Nam thời đó là do ăn uống quá thiếu chất đạm, chất béo, làm cho dạ dày tiết ra không đủ axít.

Năm 1948, ông được Chính phủ cử làm Thứ trưởng Bộ Y tế nhưng thật ra cho đến lúc nhắm mắt ông không lúc nào rời xa bàn mổ. Vừa mổ để cứu chữa cho thương binh, bệnh binh và đồng bào quanh vùng, ông vừa truyền nghề và đào tạo ra biết bao nhiêu nhà phẫu thuật trẻ.

Phát triển kĩ thuật cắt gan trái mà ông đã thành công từ năm 1939, sau khi hòa bình lập lại, ông quyết tâm tìm kiếm phương pháp

cắt gan phái theo kỉluật độc đáo của minh. Ngày ‘20 9 1961, một bệnh nhân 39 tuổi tên là Hải đã được ông cứu sống nhờ cát một nứa gan phải thành công trong một thời gian cực ngắn – đúng 6 phút!

Báo “The Lancet” của Anh và tạp chí “Zentrablattfur Chirurgic” của Đức công bố công trình “Cắt gan có kế hoạch” của ông và chi sau vài tuần đã có trên 100 nhà phẫu thuật gửi thư sang Hà Nội xin tãi liệu. Tạp chí “The Journal of American Medical Association” xin pháp được ông công bố công trình nghiên cứu nổi tiếng này. Tới năm 1965, ông trở thành một kỷ lục thế giới với 322 trường hợp cắt gan. Ông trở thành úy viên danh dự của Viện Hàn lâm y học Liên Xô (cũ) (1965), Uy viên nước ngoài của Viện Hàn lâm phẫu thuật Pari (1970), Uy viên Hội phẫu thuật Lyông (1972).

Là một nhà phẫu thuật nhưng ông không lúc nào tách rời việc học hỏi các thành tựu mới nhất về sinh học. Ông đã học toán cao cấp đế tìm hiểu về sinh học phân tử và chỉ trên co’ sở hiểu biết sâu sắc vồ sinh học phân tử ông mới tố chức được đội ngũ nghiên cứu về ảnh hương của chất độc điôxin do Mỹ sử dụng ở Việt Nam, và mới hợp tác được với nhà sinh hóa học Nguyễn Đăng Tâm (Việt kiều ở Pháp) đô sử dụng thuốc kích thích miễn dịch Lạc Hồng I kết hợp với cắt gan bộ phận đế kéo dài thêm cuộc sống của nhiều bệnh nhân bị ung thư gan.

Ông mất ngày 7 – 5 – 1982 sau một cơn đau tim đột ngột, hương thọ vừa đúng 70 tuổi.

Nguồn:

Thuyết minh về vấn đề tự học

Học là thu nhận kiến thức của người khác truyền lại. Học chỉ giúp ta luyện tập kĩ năng học và làm bài của người truyền lại, thế nên nếu chỉ học không, chúng ta-sẽ chỉ là những con người thụ động và kiến thức sẽ rất ít.

Chúng ta muôn giỏi, muôn làm giàu trí thức thì không chỉ có thể học đơn thuần mà còn phải tự học. Thế nhưng, nhiều người đã tự hỏi: Tự học là gì? Tự học là tự mình làm giàu vốn kiến thức, tự mình tìm ra những phương pháp khoa học để biến công việc học tập trở nên dễ dàng hơn. Tự học giúp cho chúng ta biến kiến thức, tri thức của nhân loại thành của bản thân; đồng thời tạo thòi quen tự suy nghĩ, tự khám phá những điều cần biết, cần học dể đi đến sáng tạo. Hay có thể nói, tự học Ịà một phương pháp học thông minh và đạt được kết quả cao hơn so với học thụ dộng bình thường.

Tự học tốt là thế, vậy ta có thể tự học như thế nào? Vâng, tự học mang rất nhiều cách học khác nhau và rất đa dạng. Tôi xin lấy một vài ví dụ:

Tự học sách giáo khoa giúp ta nắm được lí thuyết và các dạng bài tập cơ bản. Đầy là một quá trình không thể thiếu trong việc tự học.

Tự học sách tham khảo giúp ta luyện các dạng bài tập khó hơn và nâng cao sự tìm tòi và ham muốn học tập.

Tự học khi nghe giảng bài: giúp ta tiếp thu những mẹo, những cách học bài có hiệu quả của những người có kinh nghiệm. Đây cũng là một phần không thể thiếu trong quá trình tự học,

Tự học khi làm bài tập: nâng cao ý thức tự làm bài tập và giúp ta nắm chắc kiến thức qua nhiều dạng bài khác nhau.

Tự học thuộc lòng: giúp ta nhớ lâu kiến thức, lí thuyết và tạo phản xạ nhanh nhẹn trong quá trình học và trả lời câu hỏi, luyện trí nhớ.

Tự học khi làm thực nghiệm: giúp ta một lần nữa được ôn lại lí thuyết, các thí nghiệm qua một mô hình học tập sống dộng.

Tự học khi liên hệ với thực tế là khi chúng ta sử dụng đến vốn kiến thức mà mình có, tạo thói quen suy nghĩ logic và mở rộng tầm hiểu biết.

Chỉ qua một vài ví dụ tôi nêu trên đây đã dủ thấy học là một công việc vất vả và khó khăn, một phạm vi râ’t rộng và trìu tượng.

Tôi có thể đảm bảo những ai thực hiện tốt các khâu tự học trên sẽ là một người rât giỏi, có tâm hiêu biết khá lớn, có ý chí học tập bền bỉ và mạnh mẽ và sẽ thành công trên con đường phía trước. Học mà không tự học thì chúng ta sẽ khó có thể thành công trong việc học tập vì kiến thức của người truyền lại sẽ rât hạn hẹp. Thê mới thấy ích lợi của việc tự học mới to lớn nhường nào.

Tự học là một phương pháp học tập đạt kết quả rất cao nếu chúng ta hiểu được rõ về nó và các công đoạn trong việc tự học như thế nào. Tự học sẽ giúp chúng ta vượt ra khỏi sự học thông thường về vốn kiến thức và tầm hiểu biết. Vì vậy, mục đích của bài viết hôm nay tôi đưa ra so sánh chính là để giới thiệu cho các bạn một phương pháp học tập tuy cũ nhưng đạt hiệu quả cao: tự học. Tôi hi vọng với cách học này, các bạn sẽ thêm yêu học tập và khẳng định mình hơn.

Nguồn:

Viết thư góp ý cho bạn về cái nhìn đúng đắn về các môn toàn và văn

DÀN BÀI

1.Mở bài

Nêu lí do cần trao đổi với bạn về việc học văn.

2.Thân bài

a.  Giải thích tác dụng của văn học

–     Văn học là sản phẩm tinh thần của mỗi dần tộc, là tấm gương phản ánh hiện thực xã hội. Thông qua văn học, chúng ta nhận thức được nhiều điều bổ ích về con người và cuộc sống trong quá khứ cũng như trong hiện tại.

–     Văn học là món ăn tinh thần không thể thiếu của mỗi con người. Nó làm tâm hồn thêm phong phú, nhạy cảm, giúp cho con người hoàn thiện nhân cách. Văn học còn là phương tiện giải trí lành mạnh và bổ ích.

b.Giải thích sự cần thiết của việc học văn

+ Học văn là học tiếng mẹ đẻ, học cách diễn đạt lời ăn tiếng nói của dân tộc qua ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Hai điều này rất cần thiết đối với mỗi người.

NHỮNG BÀI VÂN MẪU 10/2

–     Sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong mọi lĩnh vực hoạt động khác.

–     Kĩ năng nói và viết được sử dụng hằng ngày. Nó là một phương tiện giao tiếp quan trọng (dẫn chứng).

+ Học văn để nâng cao nhận thức, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, năng lực thẩm mĩ (dẫn chứng). Học văn cũng là học đạo làm người.

c.  Nâng cao, mở rộng vấn đề

Tác dụng của việc học tập toàn diện: làm cho con người phát triển cân đối cả về trí tuệ lẫn tâm hồn, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

3.Kết bài

–     Khẳng định sự cần thiết của việc học văn.

–     Khuyên bạn nên học tốt cả toán lẫn văn để trở thành người toàn diện.

BÀI LÀM

Tâm thân mến!

Mình đã nhận được thư của bạn. Được biết bạn đoạt giải nhất kì thi Toán khối 10 toàn thành phố, mình mừng lắm! Cho mình chia vui cùng bạn nhé!

Bên cạnh niềm vui lớn ấy, còn có điều này khiến mình băn khoăn: Bạn nói là bạn vẫn chưa yêu thích môn văn và bạn ít dành thời giờ cho nó vì nghĩ rằng nó không cần thiết. Mình nhớ năm ngoái, lúc hai đứa còn học chung lớp, chung trường, có lần bạn nói với mình rằng, sau này khi tốt nghiệp phổ thông trung học, bàn sẽ thi vào một trường đại học nào đó thuộc khối A. Như vậy chỉ cần học văn sao cho đủ điểm trung bình là được, Mình không đồng ý với cách nghĩ ấy và chúng ta đã tranh luận hàng giờ với nhau. Nhân dịp này, mình trao đổi thêm với bạn về chuyện học văn nhé!

Có thể nói, lịch sử phát triển của văn học cũng lâu đời như lịch sử phát triển của toán học vậy. Từ xa xưa, con người đã biết sử dụng văn học như một phương tiện để lưu truyền kinh nghiệm và phản ánh đời sống xã hội. Dân tộc nào trên thế giới cũng coi văn học là sản phẩm tinh thần cao quý của dân tộc mình.

Thông qua văn học, chúng ta nhận thức được nhiều điều bổ ích về con người, về cuộc sống trong quá khứ cũng như hiện đại. Đọc ca dao, tục ngữ hay thần thoại, cổ tích, chúng ta hình dung được tổ tiên, ôngcha ta ngày xưa sinh sống ra sao trong suốt mấy ngàn năm đựng nước và giữ nước. Những ước mơ, khát vọng chinh phục thiên nhiên, những bài học về đạo lí, kinh nghiệm sống được’gửi gắm qua các loại hình văn học từ lúc còn truyền miệng cho đến khi có chữ viết… cứ thấm dần vào máu thịt, sau một thời gian dài, tạo nên đời sống tinh thần phong phú cho mỗi con người.

Văn học hướng con người tới Chân, Thiện, Mĩ của cuộc đời. Vì vậy, nó là món ăn tinh thần không thể thiếu. Nó giúp con người hoàn thiện nhân cách để trở nên hữu ích đối với gia đình và xã hội. Ngoài ra, văn học còn là một phương tiện giải trí lành mạnh và bổ ích.

Tác dụng của văn học lớn lao như thế nên việc học văn rất cần thiết.

Chúng ta học văn tức là học tiếng nói của dân tộc, tiếng mẹ đẻ thân yêu. Bạn cứ nghĩ xem, người nước ngoài sẽ đánh giá thế nào khi một người Việt mà lại không rành tiếng Việt? Điều đó sẽ gây trở ngại lớn trong học tập cũng như trong giao tiếp hằng ngày. Việc học văn sẽ giúp chúng ta có được kĩ năng sử dụng thành thạo ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Hai kĩ năng này liên quan chặt chẽ với nhau và là cơ sở để chúng ta học tốt các môn khác. Có thể nói không có một lĩnh vực khoa học nào lại không cần đến ngôn ngữ làm phương tiện, dưới hình thức này hay hình thức khác, dù ít hay nhiều.

Bên cạnh việc học tốt tiếng Việt, chúng ta còn học làm văn, tức là học cách viết các loại văn bản khác nhau thường sử dụng trong cuộc sống hằng ngày. Một bức thư, một lá đơn, một bản báo cáo, một câu chuyện… muốn viết cho đúng, cho hay đều phải học cả đấy Tâm ạ! Học và thực hành. Học ở trên lớp, học thêm ở nhà và thường xuyên đọc sách để nâng cao hiểu biết. Đó là những điều nên làm trong quá trình học văn.

Tâm thân mến!

Mình biết Tâm say mê học toán, thậm chí còn mơ sẽ trở thành một nhà toán học trong tương lai nữa. Điều đó rất đáng quý, mình ủng hộ bạn, nhưng ai cấm một nhà toán học vừa có tư duy chính xác lại vừa có tâm hồn phong phú, nhạy cảm của một nghệ sĩ? Sẽ thú vị biết bao khi đọc một bài thơ, một truyện ngắn, một tiểu thuyết nào đó, ta hiểu được cái hay, cái đẹp của nó và rút ra từ tác phẩm những bài học bổ ích cho mình? Hiểu được con người và cuộc sống xung quanh ta, đó là hạnh phúc, là niềm vui phải không bạn?

Văn chương phản ánh cái hay, cái đẹp, cái tinh túy của cuộc sống. Bởi vậy, nếu thiếu văn chương, cuộc sống sẽ tầm thường, tẻ nhạtvà tâm hồn con người sẽ khô cằn. Công việc căng thẳng gây mệt mỏi cho thể xác, văn chương giải tỏa sự mệt mỏi ấy và làm tăng niềm vui, niềm tin cho con người. Trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển với tốc độ nhanh chóng như hiện nay, văn chương lại càng cần thiết như khí trời và ánh nắng vậy.

Còn một điều mình thấy cần nói với Tâm. Tâm thi vào khối A, đương nhiên các bạn cùng thi đều học giỏi các môn tự nhiên. Nếu đến lúc chúng ta thi đại học, các trường đều phải thi môn Văn mà điểm văn của Tâm thấp thì chắc Tâm khó mà thực hiện được ước mơ.

Việc học văn rất cần thiết như vậy nên bạn không được coi nhẹ nó. Mình rất mong bạn sẽ dần dần yêu thích môn văn và học tốt môn văn như môn toán. Sau này bạn sẽ thấy những lời mình trao đổi với bạn hôm nay là đúng. Con người phát triển toàn diện chính là mẫu người lí tưởng của xã hội mới, phải không bạn? Mình với bạn sẽ cùng nhau phấn đấu nhé! Bạn đồng ý với mình chứ?

Thôi, cuộc trao đổi của chúng mình tạm dừng ở đây, hẹn đến nghỉ hè, ta sẽ trao đổi tiếp. Chúc bạn khỏe, vui, đạt được nhiều thành tích trong học tập và phấn đấu!

Mong sớm nhận được tin của bạn!

Thân ái Linh

Nguồn:

Bài văn hay thuyết mình về một lễ hội ở quê em

Đầm dưng tương truyền là thân rồng uốn khúc và chính giữa đầm là hàm ngọc rồng.

Những chiếc thuyền dự thi có sáụ người ngồi cùng bơi. Bơi thuyền trong cuộc thi này không ai dùng chèo, mỗi người dự thi được sử dụng hai tay hai chiếc đĩa phố, bơi thuyền bằng những đĩa này, ngón tay cái giữ trong lòng đĩa. Khi bơi bàn tay phải úp xuống, như vậy bơi đã nhẹ, thuyền lại đi nhanh. Muốn dự bơi, những tuyển thủ đều có tập luyện trước.

Những thuyền thi đều của dân làng, được sắp hàng một dãy ngay bờ đầm mé trước đình.

Trước cuộc thi, ban hội đồng rút thăm đế từng đội lấy thuyền, mỗi chiêc thuyền một số, đội nào rút trúng chiếc thuyền nào sẽ bơi bằng chiếc thuyền dó.

Sau cuộc rút thăm, các đội đua đến ban hội đồng lĩnh đĩa và số thuyền.

Để được gọn gàng trong lúc bơi, các tuyển thủ đều được cởi hết quần áo, mỗi người chỉ còn bận một chiếc khố màu, thường một đội sáu người cùng mặc khố một màu.

Các tuyển thủ bước xuống thuyền, cùng xếp hàng thuyền theo chữ nhất để chò’ lệnh bắt đầu cuộc bơi qua một hồi trống.

Trong lúc ấy trên bờ đông nghẹt khách xem hội, người làng và người làng khác. Có người thuê thuyền riêng bơi ra giữa đầm đế cổ vũ cuộc đua.

Tiếng trống dứt, những chiếc thuyền chen nhau vùn vụt đi như những mũi tên lao thẳng trên đầm. Có những thuyền tranh nhau, lấn

Bồi dưỡng năng lực tập làm văn 8

Nhau. Có nhiều tay đua bị ngã đầm. Nhưng không sao, không bao giờ xảy ra tai nạn. Sự tổ chức của dân làng rất chu đáo, chính những người dự bơi đều là những tay bơi lội có hạng! Mọi chiếc thuyền đều nhắm đích lấy cây tre mang về đình lĩnh thưởng.

Nguồn:

Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở quê em

Bài làm

HÀM RỒNG

(Giới thiệu một danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử)

Du khách đi bằng đường bộ từ nam ra bắc, từ bắc vào nam không thế không di qua Hàm Rồng. Hàm Rồng nằm ở cửa ngõ phía

bắc tỉnh lị Thanh Hóa, là yết hầu của con đường huyết mạch một thời đánh Mỹ, niềm tự hào của cả dân tộc trong một giai đoạn lịch sử oanh liệt.

Hàm Rồng trở thành bất tử với những chiến công oanh liệt và cảnh trí nên thơ. Nhưng hai chữ Hàm Rồng (tên chữ là Long Hạm hay Long Đại) vốn là tên riêng của một ngọn núi hình đầu Rồng với cái thân uốn lượn như một con rồng từ làng Ràng (Dương Xá) theo dọc sông Mã bên phía bờ nam. Trên núi Rồng, còn có động Long Quang, hang ăn thông sang bên kia như hai mắt rồng, được gọi là hang mắt Rồng (cho nên còn có tên gọi là núi Mắt Rồng). Truyền thuyết kế lại, con Rồng đang vờn hạt ngọc ở phía bên kia sông bỗng bị mũi tên độc trúng vào mắt phải, nên phải gục ở bên sông. Mắt phải có lỗ ăn thông lên trên, mùa mưa nước chảy xuống màu đỏ, ấy là nước mắt rồng. Ở dưới động Long Quang, có mỏm đá nhô ra, hàm trên há rộng, hàm dưới ngập trong nước như đang hút nước, nên có tên chữ là Long Hạm, gọi nôm na là Hàm Rồng.

Bên kia sông, có hòn núi Ngọc, tên chữ là Hỏa Châu Phong hay còn gọi là núi Nít, ngọn núi này tròn trăn, các lớp đá chen dày tua tủa như ngọn lửa từ trong lòng đất bốc lên, bởi vậy mà gọi là Hỏa Châu Phong.

Chín mươi chín ngọn hên dông Còn hòn núi Nít bên sông chưa về.

Chung quanh núi Rồng có nhiều ngọn núi trông rất ngoạn mục như: Ngũ Hoa Phong có hình năm đóa hoa sen chung một gốc, mọc lên từ đầm lầy. Có hang Tiên với những nhũ đá mang nhiều vẻ kỳ thú: hĩnh rồng hút nước, hình các vị tiên… có ngọn Phù Thi Sơn trông xa như một người đàn bà thắt bên mình một dải lụa xanh nằm gối đầu vào thân rồng. Rồi núi mẹ, núi con như hình hai quả trứng, có núi Tả Ao, vũng Sao Sa có nước trong vắt quanh năm. Rồi núi Con Mèo, núi Cánh Tiên đều có hình thù như tên gọi.

Với cảnh trí nên thơ như vậy, Hàm Rồng là nơi dừng chân của bao tao nhân mặc khách: Lý Thường Kiệt, Phạm Sư Mạnh, Lê Quát, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Thượng Hiền, Tản Đà v.v…; ở động Long Quang vẫn còn một sô bài thơ khắc trên vách đá.

Hàm Rồng không những có cảnh đẹp thiên nhiên mà còn có bề dày lịch sử hàng trăm thế kỷ, đó là khu di chỉ núi Đọ (cách Hừm Rồng 4km về phía bắc) tiêu biếu cho thời đại đá cũ. Và từ núi Đọ di xuống phía đông nam, cách Hàm Rồng lkm là khu di chi Đông Sơn, tiêu biểu cho nền văn hóa dân tộc thời kỳ đồng thau.

Hàm Rồng còn là nơi ghi dấu nhiều chiến tích lịch sử. Tại đây, thế kỷ XIII, Chu Nguyên Lương, một nhà nho đã hưởng ứng khí thô’ Diên Hồng; chiêu tập dân làng và học trò của mình thành đội quân, lập nên chiến công oanh liệt ở Vạn Kiếp.

Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, quân và dân Hàm Rồng đã viết nên trang sử hào hùng.

Với quyết tâm cắt đứt mạch máu giao thông quan trọng này của ta, Bộ quốc phòng Mỹ đã trực tiếp chỉ đạo phương án đánh phá Ham Rồng. Chúng đã huy động 121 lần tốp với 2924 lần chiếc máy bay danh phá 1096 trận, ném 71600 tấn bom phá với 11526 quả, 99 bom nổ chậm, bắn 600 tên lửa, 2840 quả rốckét, 2178 quả đạn pháo kích, hảng trăm bom bi và thủy lôi. Tính bình quân mỗi người dân ớ day phải chịu đựng 5 tấn bom đạn của địch. Chỉ riêng trong trận đánh dầu tiên ngày 3, 4 tháng 4 – 1965 đã diễn ra vô cùng ác liệt. Địch đã xuất kích 174 lần tốp, 453 lần chiếc máy bay, ném 350 quả bom từ 500 đến lOOOkg, bắn hàng trăm quả tên lửa. Nhưng cũng trong hai ngày này, quân và dân Hàm Rồng đã chiến đấu ngoan cường, bắn rơi 47 máy bay, bắt sống nhiều giặc lái. Và trong hai lần chống chiến tranh phá hoại, Hàm Rồng đã hạ 116 máy bay, bắt sống nhiều giặc lai, trong đó có 2 pháo đài B52, giữ vững cầu, lập nên một kỷ lục bảo vọ cầu chưa từng có trong lịch sử thế giới, đem lại niềm tự hào cho dAn tộc, bạn bè khắp thế giới khâm phục, ca ngợi. Cũng trên mánh dát rực lửa anh hùng này, đã sản sinh nhiều tập thể anh hùng vA nhưng chiến sĩ anh hùng: Đại đội 4 pháo cao xạ, Đồn công an nhàn dfln Hàm Rồng, Phân đội 3 công an nhân dân vũ trang, Đại đội dAn quân tiểu khu Nam Ngạn, Nhả máy điện 4-4, Đội cầu phả 19/5 rai’ anh hùng Ngô Thị Tuyển, Đỗ Chanh, Ló Kim Hồng v.v…

Hàm Rồng, nơi hội tụ những vẻ đẹp kỳ thú của thiên nhiên, mảnh đất có bề dày lịch sử, tiêu biểu cho nền văn hóa dân tộc, và truyền thống dấu tranh dựng nước và giữ nước ngoan cường, mãi mãi là niềm kiêu hãnh, tự hào của nhân dân cả nước và là điềm du lịch hấp dẫn của du khách gần xa.

Nguồn:

Copyright © 2018 Xuân Hải Ml