Xuân Hải Ml

Xuân Hải Ml

Bán thận vì không coi nó là gốc của sự sống, ai làm tốt 4 việc này thì thận mới “bền”

– Câu chuyện này không đơn thuần nói về bi kịch của người trẻ liều mình bán thận, mà là điều bạn cần biết về tầm quan trọng của chức năng thận và cách chăm sóc thế nào cho đúng nhất. Bi kịch: Bán 1…

Bác sĩ sản khoa: 8 lưu ý cho mẹ bầu và thai nhi phòng tránh nguy cơ sinh non

– Thai được gọi là đủ tháng kể từ khi đủ 38 tuần tính từ ngày đầu tiên của lần có kinh cuối cùng, hoặc dựa trên siêu âm thai 3 tháng đầu ( nếu người mẹ có kinh không đều). Khi sinh ra non…

34 tuổi mắc ung thư gan giai đoạn cuối, nguyên nhân gây bệnh ai cũng nên đề phòng

– Người trẻ mắc bệnh hiểm nghèo không hiếm, nhưng nguyên nhân gây Ung thư gan của bệnh nhân này là bài học lớn cho tất cả chúng ta. Bệnh có thể bắt đầu từ một thái độ sống. “Người tốt” nếu không cẩn thận…

4 nhóm người buộc phải khám ung thư để tiêu diệt mầm bệnh ngay từ trong ‘trứng nước’

– Ung thư đại trực tràng là nguyên nhân gây tử vong vì ung thư đứng thứ 2 trên thế giới, nhưng lại là một trong những  bệnh ung thư dễ phòng ngừa và kiểm soát nhất bằng cách khám sớm. Khám ung thư định…

Bài văn siêu hay thuyết mình về cây bút lông

Sự phát minh bút lông cũng như các văn cụ khác như mực (mặc), giấy (chỉ), nghiên mực (nghiễn) mà người trung quốc quen gọi là văn phòng tứ bảo giữ vai trò quan trọng trong việc truyền bá văn hóa, truyền thụ tri thức, sáng tạo nghệ thuật. Cây bút lông hoàn toàn khác hẳn dụng cụ viết ở các nước khác, bởi vì ỏ’ các nước khác có sự phân biệt rõ dụng cụ viết (bút) và dụng cụ vẽ (cọ) còn ở trung quốc thì không. Bút lông kiêm luôn hai chức năng viết và vẽ. Môn thư pháp (calligraphy) từ lâu vốn được xem là loại hình nghệ thuật đặc biệt. Thư pháp gia, tức nhà viết chữ đẹp, vẫn được coi trọng như họa gia.

Nói chung, người ta cho rằng mông điềm (một đại tướng nhà tần) chế tạo bút lông, thái luân (đời tiền hán) chế tạo giấy và hình di (đời hán) chê tạo mực. Trong quyển thiên tự văn của vương hi chi có câu: “điềm hút luân chỉ”. (mông điềm tạo bút, thái luân tạo giấy). Thực ra, không phải mông điềm phát minh bút lông, bởi lẽ các cổ vật

Khai quật được mà các nhà khảo cổ cho rằng có trước thời đại mông điềm trên ngàn năm – chứng tỏ cố nhân đã biết dùng bút. Trên những mảnh xương trinh bốc (oracle bones) khai quật được tại an dương (hà nam) có ghi những nét chữ hao nét bút lông chứ không phải nét khắc vạch. Hơn nữa, trong sử kí của tư mã thiên nơi tiểu truyện của mông điềm không đề cập việc phát minh bút lông.

Trước đời tần, cây bút lông gọi là duật, sau đời tần, chữ duật được thêm bộ trúc và gọi là bút. Sự thay đổi này có ghi trong quyển cổ kim chú: thời xưa cây bút làm bằng gỗ, về sau cán bút bằng gỗ nhưng đầu có gắn búp lông. Lõi búp lông bằng lông nai và bọc bên ngoài bằng lông dê. Đến thời mông điềm, cán gỗ được thay bằng cán trúc và búp lông được làm bằng lông thỏ. Quyển thuyết văn giải tự có ghi: “người nước sở gọi nó là duật, người nước ngô gọi là bất duật, người nước yên gọi là phất, người nước tần gọi là bút”. (sở vị duật, ngô nhân vị chi bất duật, yên vị chi phất, tần vi chị bút).

Quyển bút kinh của vương hi chỉ (303 – 370) có nói đến việc các quan chức nhà hán cống nạp triều đình lông thỏ để làm bút. Tác giả ngợi khen lông thỏ của nước triệu là loại cực phẩm. Điều này cho thấy việc sử dụng bút lông thỏ rất được ưa chuộng và phổ biến vào đời hán. Tuy tác giả không nói cán bút bằng vật liệu gì nhưng căn cứ trên mặt chữ, chữ duật được thay bằng chữ bút chứng tỏ việc lấy trúc làm cán bút quả là rất phổ biến vậy.

Vào khoảng năm 1970, các cây bút được khai quật tại cam túc được giám định có vào đời hán, và hình dáng giống cây bút lông ngày nay. Trong bảo tàng viện hoàng cung quốc gia (national palace museum) tại đài loan hiện đang bảo tồn một bộ sưu tập bút lông đời thanh, trong đó có một số bút dùng trong triều càn long (1736 – 1795), lẽ đương nhiên đó là những cây bút thượng hảo hạng.

Hồ châu là địa phương nổi tiếng về chế tạo bút. Khi chế tạo bút, người ta thường dùng lông thỏ, lông dê, lông chó sói hoặc kết hợp các thứ lông này theo một tỉ lệ tương xứng để bút có được những hiệu quả khác nhau. Cho đến nay, lông thỏ tốt nhất không đâu bằng trung sơn. Do độ cứng mềm của từng loại lông và do phạm vi sử dụng của bút, người ta phân biệt hai loại chính: nhóm bút lông mềm (nhuyễn hào bút) và nhóm bút lông cứng (ngạnh hào bút). Mỗi nhóm gồm nhiều loại khác nhau và có đủ cỡ đại/ trung/ tiểu.

1.   Nhóm bút lông mềm (nhuyễn bút) chủ yếu làm bằng lông dê gồm có:

*   đề bút (cũng gọi là đẩu bút): loại bút cực lớn, các thư pháp gia thường dùng viết đại tự, các họa gia ít dùng.

*   bạc vân bút:bút làm bằng lông dê và một ít lông cứng. Sự tiện dụng của bút là tính cương nhu, có thể vẽ trên thục chỉ (giấy chín) hoặc trên lụa. Rất thích hợp vẽ những hoa mềm mại. Bút có ba cỡ.

*   nhiễm bút, đài bút, trước sắc bút:ba loai này làm bằng lông dê, dùng tô màu hay chấm những điểm rêu. Bút có ba cỡ.

*    bạc khuê:dùng vẽ đường nét trên lụa hoặc thục chỉ. Bút có ba cỡ.

*   bài bút: nhiều cây bút ghép lại như chiếc bè, dùng để quét những mảng màu lớn.

2.    Nhóm bút lông cứng (ngạnh bút) gồm có:

*    đề bút:bút cực lớn bằng lông cứng, người ta ít dùng.

*   lan trúc bút: bút bằng lông sói hoặc lông chồn (lông sói cứng hơn lông chồn một ít), dùng vẽ lan, trúc hoặc những nét thô lớn, cũng có thể dùng để vẽ nếp nhăn y phục. Bút có ba cỡ.

*   thư họa bút: bút được dùng nhiều nhất vì thích hợp viết chữ cũng như vẽ đủ loại: nhân vật, sơn thủy, hoa điểu. Bút có ba cỡ.

*    linh mao họa bút : dùng vẽ lông chim. Bút có ba cỡ.

*   điểm mai bứt, diệp cán bút, lang khuê bút, v.ư…Nói chung đây là những bút nhỏ lông cứng bằng lông sói, dùng vẽ những đường nét nhỏ như điểm hoa mai, vẽ gân lá… Phạm vi sử dụng bút cũng khác nhau: khi thấm màu hay tô màu dùng bút mềm lông dê, khi vẽ đường nét dùng bút cứng lông sói. Đối với giấy hay lụa, tùy theo thô hay mịn mà dùng bút lông cứng hay mềm. Giấy vẽ có phèn rồi gọi là thục chỉ (giấy chín), giấy vẽ chưa phèn gọi là sinh chỉ (giấy sống). Khi vẽ sinh chỉ dùng bút lông cứng, khi vẽ thục chỉ dùng bút lông mềm. Đối với lụa, vì trước khi vẽ cần phải phèn qua nên theo nguyên tắc phải dùng bút lông mềm hoặc bút làm bằng cả hai thứ lông cứng và mềm gọi là kiểm hào bút.

Bút dùng lâu ngày trở nên tưa còn gọi là thoái bút mà ta không nên vất bỏ vì nó rất tuyệt diệu khi viết chữ thảo. Giới hội họa có câu: người họa sĩ không bao giờ ném bỏ bút cũ. Một họa gia đời thanh là trách lãng trong quyển họa sự vi ngôn có nói: “bút lông cứng để vẽ

Đường nét, bút lông mềm để tô màu, bút mới để vẽ những nét công phu tỉ mỉ (công bút), bút cũ để mô tả tượng trưng theo lối tả ý (ý bút), bút lông cứng để vẽ chi tiết, bút lông mềm để quét màu, bút lông cứng đầu nhọn đế vẽ gân lá, bút cù lông cứng đê chấm những điểm rêu, bút lớn lông mềm đề quét mực loãng, bút cũ lông mềm đế quét những mảng màu nhạt mỏng. (câu lặc dụng ngạnh bút, trứ sắc dụng nhuyễn bút, công tế dụng tân bút, tả ý dụng thoái bút, giới họa dụng ngạnh bút, họa nhiễm dụng nhuyễn bút, câu cân dụng ngạnh tiêm bút, điểm đài dụng ngạnh thoái bút, bát mặc dụng đại nhuyễn bút, đạm sắc dụng nhuyễn thoái bút).

Kĩ thuật cầm bút cũng thay đổi khác nhau:

*   nếu chỉ viết chữ hoặc tỉa những đường nét nhỏ, mảnh, tỉ mỉ, cầm bút như sau: quản bút được giữ ở hai vị trí: ai giữa đốt thứ nhất ngón trỏ và đầu ngón cái, b/ giữa hai đốt đầu của ngón giữa và áp út.

*   nếu vị trí a cố định, thì vị trí b có thể di động tới lui với sự điều khiển của ngón giữa và ngón áp út.

*   nếu vị trí a di dộng theo sự điều khiển của cánh tay, thì vị trí b có hai chuyển động: một là của riêng b, một là theo di động của a.

Như vậy ngọn bút di chuyển trên mặt giấy lụa vô cùng linh hoạt. Nếu đầu ngọn bút di động trên một diện tích tương đối nhỏ, ta vận động cổ tay. Nếu trên diện tích lớn, ta vận động cậ cánh tay. Nếu chỉ để vẽ, cầm bút như sau: bút được giữ giữa đầu ngón cái và các đầu ngón còn lại. Lối cầm bút này rất tiện lợi vì đầu bút có thể di động theo mọi chiều hướng theo sự điều khiển của ngón tay, cổ tay và cánh tay, sự ảo diệu của lối cầm bút này là nó có thể biến thể. Lối cầm bút như vậy gần giống lối cầm thứ nhất nhưng hiệu quả cao hơn vì bút có thể đứng, nghiêng, nằm. Đặc biệt ở thế nằm, búp lông có hai chuyển động: hoặc theo chiều dọc thân bút hoặc tại hai bên. Nếu lông bút hơi khô mực hay khô màu, nó thể hiện được những vết rạn nứt như sớ gỗ, sớ đá, rất thích hợp để vẽ thân cây, núi và đá.

Ngoài ra, vị trí bàn tay trên cán bút cũng tạo hiệu quả khác nhau vì bàn tay gần búp lông và bàn tay ở cuối cán bút tạo những lực mạnh yếu khác nhau.

Trong cách vận dụng bút, người ta thường dùng những thuật ngữ như: ức (nhấn xuống), dương (nâng lên), đốn (dè dặt), tỏa (hạ xuống),

Trì (chậm trễ), tốc (nhanh), hoãn (thong thả), khẩn (gấp gáp), khinh (nhẹ tay), trọng (nặng, mạnh tay), lập (bút đứng thẳng), ngọa (bút nằm), sát (chà quét), điểm (chấm bút), nhiễm (tô màu)… Những hiệu quả tạo ra như: thoán (tạo vết rạn nứt), can (khô), thấp (ướt át), nồng (đậm đà), đạm (nhạt), nhung (mơn mởn như chồi non), trám (chấm giọt), thức (thực), hư (hư ảo), tiêm (nhọn), thốc (trơ trụi), tàng (ẩn kín), lộ (xuất hiện), thô (thô), tế (nhỏ, mảnh mai), nhuyễn (mềm), ngạnh (cứng), âm (tối), dương (sáng), hướng (tới), bối (sau lưng), hậu (dày), bạc (mỏng)…

Một khái niệm khác khi chấp bút đó là khí bút. Tô đông pha, một nhà thi họa và chính khách đời tống, có lần tán thưởng thư pháp của nhược quỳ: “chữ viết sơ như mưa hay, phát tán một cách tự nhiên mà không chút nào cẩu thả”. Rõ ràng chỉ khi nào người nghệ sĩ hoàn toàn đắm mình trong sự sáng tạo nghệ thuật thì mới đạt được hiệu quả này. Có thể gọi đây là hiện tượng cảm ứng. Người viết cảm được sự biến động của tự dạng trong tâm. Khi sự cảm nhận này hội đủ rồi thì người nghệ sĩ cầm bút viết ngay một cách đúng mực và thông suốt không đứt đoạn. Thần khí của chữ phóng phát từ tâm tưởng hiện lên mặt giấy. Nét bút trở nên sống động, linh hoạt và có thần khí. Ta có thể lấy ẩn dụ ngón tay chỉ trăng: người sơ khởi phải lệ thuộc vào văn tự, dẫu có công phu, nét bút có thể đẹp nhưng không có thần vì thần khí chỉ trụ ở ngón tay. Còn đối với người lão luyện, ngọn bút như một bộ phận thân thể nối liền với bàn tay. Trong con mắt người nghệ sĩ bậc thầy, không có “ngón tay”, chỉ có “mặt trăng” mà thôi. Nghĩa là không ngọn bút, chỉ có cái thần khí của chữ hiển hiện trên giấy, lụa.

Đại sư d.t. Suzuki có đề cập đến vấn đề này ở bài luận về zen và hội họa, trong quyểri zen buddhim: “một nét khác biệt khác của mặc họa (sumiye) chính là sự nỗ lực chụp bắt cái thần đang lúc nó vận động. Vạn vật luôn vận hành, không có gì tĩnh lặng trong bản chất của nó. Khi bạn nghĩ rằng bạn đang giữ yên được nó thì nó trượt khỏi tay bạn rồi. Bởi vì trong cái khoảnh khắc mà bạn giữ nó, nó không còn sự sống nữa. Nó đã chết. Nhưng mặc họa cố gắng bắt giữ sự vật cùng với sức sống của nó, một điều cơ hồ không thể đạt được. Vâng, sự nỗ lực của người nghệ sĩ muốn thể hiện một vật thể sống động trên trang giấy dường như bất khả thi, nhưng người nghệ sĩ có thể đạt được ý muốn này ỏ một giới hạn nào đó nếu mỗi nét bút đều phóng phát trựctiếp từ cái thần khí nội tại, không bị ngoại giới và tạp niệm ngăn trở. Trong trường hợp này ngọn bút chính là cánh tay vươn dài ra. Hơn thế nữa, nó chính là thần khí của nghệ, sĩ, thần khí này ẩn hiện trong từng nét bút trên mặt giấy. Khi hoàn tất, bức mặc họa chính là một thực thể sống, hoàn bị và không hề là bản sao của bất kì sự vật nào”.

Cây bút lông, một nét văn hóa truyền thống tiêu biểu của người trung quốc, suốt mấy ngàn năm phát triển từ một que gỗ thô sơ thành một cây bút lông xinh xắn ảo dụng, đã chứng tỏ óc thông minh sáng tạo của dân tộc này. Các nước đồng văn hóa với trung quốc như việt nam, triều tiên cũng từng sử dụng bút lông. Nhưng trong thời đại tân tiến hiện nay, có nhiều loại bút khác tiện lợi hơn đã thay thế bút lông. Cây bút lông chỉ còn đắc dụng trong lĩnh vực nghệ thuật như thư pháp và hội họa mà thôi.

Nguồn:

Thuyết minh về tác phẩm Số Đỏ dựa vào nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng

BÀI LÀM

Lịch sử văn học Việt Nam chưa có một.tiểu thuyết nào gây được một phản ứng xã hội kịch liệt như tiểu thyết Số đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng. Số đỏ xuất hiện đột ngột giữa làng văn như một tiếng sét xé trời mà thanh âm của nó chắc chắn sẽ còn vang vọng mãi. Xuân Tóc Đỏ (nhân vật chính trong tác phẩm) trở thành một nhân vật điển hình trong số rất ít các nhân vật điển hình của văn học Việt Nam. Với Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã trở thành đại diện xuất sắc bậc nhất của dòng văn học hiện thực phê phán thời kì 1930 – 1945 ở Việt Nam. Thành công của tác phẩm trước hết là bởi một nghệ thuật trào phúng sắc bén bậc thầy của nhà văn mà qua đó xã hội Việt Nam đương thời hiện lên với dầy đủ những tàn tật, dị dạng, những tiêu cực, tệ nạn. Chương cuối cùng của tác phẩm Xuân Tóc Đỏ cứu quốc tuy chưa là chương hay nhất của tác phẩm nhưng lại là chương điển hình nhất cho hiện thực xã hội lố lăng, bịp bợm đương thời.

Chương truyện là bước phát triển cao nhất cho cái nhà văn gọi là “sô đỏ” của thằng Xuân. Từ một tên ma cà bông hạn bét ở đầu tác phẩm giờ đây chóng vánh trở thành một vĩ nhân đầy hào quang chói lọi. Một sự thăng tiến đến chóng mặt, tưởng như đầy rẫy sự vô lí nhưng đặt trong hoàn cảnh xã hội lúc ấy lại có thể xảy ra được. Suy cho cùng, cái “Sô đỏ” của thằng Xuân không chỉ hoàn toàn là cái may do khách quan (mà cụ thể là cái xã hội thượng lưu đểu giả đương thời) đưa lại, mà nó bắt nguồn từ bản chất mất dạy, vô giáo dục, vô văn hóa, xỏ lá đểu cáng, háo danh háo sắc của y. Nói cách khác cái bản chất của thằng Xuân chính là điều kiện cần và hoàn cảnh xã hội là điều kiện đủ để cái “sô đỏ” của y có thổ phát triển rực rỡ huy hoàng, đạt đến giá trị cực đại của nó. Trong chương truyện cuối cùng của tác phẩm, Xuân Tóc Đỏ đã đáp ứng một cách xuât sắc đầy đủ những yêu cầu mà xã hội đương thời đặt ra đê bước tới danh hiệu cao quý “vĩ nhân”, “anh hùng cứu quốc”. Có thể nói Xuân Tóc Đỏ là kết tinh, là điểm hội tụ tập trung của mọi thói tật, mọi tệ nạn xã hội. Nhưng mỉa mai thay, chính sự hội tụ bỉ ối ấy lại đưa nó đến đỉnh cao danh vọng. Xuân Tóc Đỏ là con người của tệ nạn nhưng cũng lại là con người của hào quang. Suy cho cùng cái chất trào lộng của ngòi bút Vũ Trọng Phụng phát khởi từ đây, từ một nghịch lí mà hợp lí, từ một sự phi lí mà có thật. Đó là cả một sự đối chọi đầy chua chát mà chì có ngòi bút hiện thực của Vũ Trọng Phụng mới vạch ra trần trụi. Cứ như những tình tiết xảy ra trong tác phẩm, đặc biệt là ở chương cuối, người đời có thể rút ra một quy luật tiến thân lạ lùng nhất trong đời, chỉ có thể xảy ra ở cái xã hội thời ấy mà thôi, quy luật ấy là càng bịp bợm. Càng vô văn hóa, càng xổ lá ba que, càng dâm loạn thì cơ hội tiến thân càng rộng mở.

Nhìn lại con đường tiến thân của Xuân, ta thấy rồ hơn điều đó. Dầu tiên y chỉ là một đứa trẻ mồ côi và mất dạy, hư hỏng, rồi một tên ma cà bông hạng bét, cơm thừa canh cặn, là chạy cờ rạp hát, bán thuôc tây đểu trên tàu xe, tiếp đèn là thằng nhặt banh trên sân quần vợt. Sau một “tai nạn nghề nghiệp” bệnh hoạn và trở nên thất nghiệp, có ai ngờ rằng cái số đỏ của y bắt đầu “liên tục phát triển” kê từ đây. Do chi tiết biêu hiện tính dâm đãng của y (cụ thể là nhìn trộm phụ nữ thay quần áo – một thói quen cố hữu, một đặc tính xấu xa ngay từ nhỏ của y) mà y lọt vào “mắt xanh” của mụ me Tây bệnh hoạn, rửng mỡ có cái tên là bà Phó Đoan. Từ đó con đường công danh của y phất lên như diều gặp gió bởi y đã bước vào vòng quay của xã hội thượng lưu. Đầu tiên người ta gọi y là sinh viên trường thuốc vì đã có công giết chết một lão già trăm ngàn lần đáng chết. Tiếp sau đó người ta còn gán cho y những cái tên nghe thật sướng tai nào là nhà cải cách xã hội, nào là giáo sư quần vợt và hàng chục vị hàm cao cấp khác trước khi đến đích cuối cùng là một vĩ nhân,

một anh hùng cứu quốc. Một con người với tài năng hiếm có và một cách vô ý thức, từ chỗ là công cụ cho người khác, cho xã hội lợi dụng dần dần với bước của “chó sói gửi thân”, y đã lợi dụng trở lại, dùng xã hội làm công cụ tiến thân một cách đầy toan tính.

Có thể xem mỗi chương trong Số đỏ là một màn sân khâu mà ở đó các xung đột diễn ra đầy kịch tính. Nếu như ở các chương trước chỉ là những màn kịch vi mô với các mâu thuẫn diễn ra trong gia đình cụ cốHồng, một tập hợp các thành viên đầy khập khiễng và thằng Xuân thì chương cuối này là một màn kịch mang tầm vĩ mô, một màn kịch “bách khoa toàn thư” về xã hội Việt Nam đương thời, một màn đại hài kịch tạp-phê-lù huy động tôi đa mọi nhân vật vào các vai diễn. Đó là từ vua ta tới vua Xiêm, từ quan thông sứ tới quan toàn quyền, từ các ông Tây bà đầm cho tới các thượng lưu trí thức, từ cái con mẹ me Tây góa phụ cho chí mấy ông thầy chùa, từ các ông thầy tướng số tới các chủ khách sạn, từ các ông chồng bị cắm sừng cho tới các cô gái tân thời quyết giữ chữ trinh tiết với hai người trở lên… Tất cả chừng ấy “nhân vật” lộn xộn, bừa bãi đều được lôi sềnh sệch vào một màn hí trường hài hước nhốn nháo, lố bịch, kệch cỡm, tạp nham hết sức. Kính thưa các loại phế phẩm, kính thưa các loại phụ phẩm phế liệu, kính thưa các hạng người… đều được Vũ Trọng Phụng nhồi nhét vào màn kịch trào phúng cỡ bự của mình một cách xô bồ, tự nhiên và sinh động đến lạ thường. Cái xã hội tật Nguyễn ấy chưa bao giờ mang tính quái thai đến thế, chưa bao giờ động cỡn đến thế. Dưới ngòi bút trào lộng sắc bén, Vũ Trọng Phụng đã vạch trần tất cả những tệ nạn bản chất nhất của cái xã hội bịp bợm “chó đểu” ấy. Nhà văn đã phá vở tung tóe tất cả những tỉ lệ hiện thực, làm lộn tùng phèo hết thảy những giá trị vốn có để gây nên chất trào lộng cho tác phẩm. Nó thê hiện ở một lôi hành văn đặc biệt, khi nói về cái hình thức bên ngoài, cái mã cái vỏ thì thậm xưng, tăng lên đến mây xanh, ngay sau đó nhà văn lại ném phịch nó xuống mặt đất bằng chính cái bản chất của nó. Cái hình thức bôn ngoài thì lớn lao, to tát, hùng hồn nhưng cái ruột thì lại thảm hại như một cách tiêu điều, đến tội nghiệp. Cuộc tiếp kiến lịch sử giữa vua ta và vua Xiêm được khoa trương với những từ ngữ đại hoa mĩ: nào là “Nước Việt Nam hồi xuân”, nào là “Một chỗ rẽ trong lịch sử”, nào là “Việt – Xiêm thân thiện”, “hai vua tại một nước”, nào là “một cái hân hạnh đặc biệt cho bình dân Việt Nam: cả vua Xiêm nhân dịp thân hành sang chơi với ta” nào là “hai nước Xiêm – Việt từ nay bắt tay nhau trên dường tiến bộ”. Tưởng là vua ta với vua Xiêm cùng nhau hội đàm, cùng nhau luận bàn việc nước hóa ra lại đi lông bông để cho dân chúng Hà Thành có dịp ngồi lê đối mách. Cuối cùng vì tinh thần thế thao chân chính, cả hai ngài cùng đến xem một trận đấu quần vợt. Vũ Trọng Phụng đã khéo léo đưa chuyện, dần chuyện để người đọc thấy được cái hệ trọng hàng mà của hai vị “thiên tử”. Chính sự khập khiễng ấy đã lập tức gợi lên cái chất hài hước cho câu chuyện.

Việc Xuân Tóc Đỏ, một tay vợt nghiệp dư, được mời ra tranh tài với tài

tử Luang Prabahot, quán quân quần vợt Xiêm La, không chỉ là một sự chỉ định tình cờ mà là kết quả của một sự xếp đặt, của một mưu ma chước qui sặc sụa chất vị kỉ, điển hình cho cái thói thắng nhân ố kỉ của Xuân Tóc Đỏ. Y đã tương kế tựu kế để làm hại hai nhà quán quân Hải và Thụ ở bót để hãnh diện tiến ra sân theo lời mời cùa đích vị Tổng cục trưởng tống cục thể thao Bắc Kì. Chính vì thế, Xuân Tóc Đỏ và ông bầu Văn Minh của mình trở thành đại diện Hà Thành để giữ cái danh dự cho Tố quốc.

Điều hài hước nữa là từ vua Xiêm và vua ta cho chí các quan Pháp đi xem thể thao nhưng lại thế hiện những hành vi, thái độ phi the thao đến nực cười. Vua Xiêm lại quá máu me ăn thua, sần sàng đem vận mệnh đất nước ra để đổi lấy chuyện thắng thua trong một quán quần vợt vô bổ. Trong khi đó vua ta thì chỉ cốt, đánh lấy… thua. Và chí thị ấy đã được ban tới tai Xuân Tóc Đỏ và kết cục ai cũng rõ là chiến thắng thuộc về Luang Prabahot, quán quân quần vợt Xiêm La và đức vua Xiêm S.M.Prafadophick. Huống nổi, sự hi sinh cao cả của bậc đại nhân, đại tài lại không được quần chúng thấu hiểu. Xuân Tóc Đỏ và Văn Minh bị lâm vào một nỗi oan Thị Mầu. Quả thua ngỞ ngẩn và khó hiểu của Xuân đã làm khán giả, những người sẵn sàng tự tử bằng cách hút thuốc phiện không có dâm thanh vì không mua được vé vào cửa, nổi cơn thịnh nộ. Họ hò hét “Quốc sỉ! về nhà bò! Di về nhà bò đi!” rồi “Abas Xuân! Abas Xuân! Dcsexplications!” (Đả đảo Xuân! Đả đảo Xuân! Hãy giải thích). Đáng thương thay, tội nghiệp thay cho Xuân Tóc Đỏ, oan ức thay cho y vì quần chúng “trẻ người non dạ”, “nông nổi” không thâu tỏ nổi tấc lòng trung hậu cao thượng của y.

Tất, cả những sự hiểu nhầm ấy đều tan biến bởi một bài thuyết giáo “cố lai hi” của y. Hãy xem những lời lồ trịnh thượng và nực cười đen nhường nào: “Hỡi quần chúng! Mi không hiểu gì, mi oán ta, ta vẫn quý mi mặc dù mi chẳng hiểu lòng ta!”. Trời đẩt hỡi cách xưng hô của bậc vĩ nhân mới độc đáo làm sao, độc đáo một cách tuyệt đối khiến người đọc không còn gì để bình thêm nữa, không có gì chê bai, khen tụng nữa. Nhưng chưa hết, để kết thúc bài hùng biện của mình, Xuân Tóc Đỏ dõng dạc: “Thôi giải tán đi, và cứ việc an cư lập nghiệp trong hòa bình và trật tự! Ta không dám tự phụ là anh hùng cứu quốc nhưng ta đã tránh cho mi cái nạn chiến tranh rồi. Hòa Bình vạn tuế, Hội Quốc Liên vạn tuế!”. Khỏi phải bàn những lời lẽ đã đưa hắn lên vị trí vĩ nhân, anh hùng cứu quốc, là thần tượng của “mi”, như cách gọi của bậc vĩ nhân Tóc Đỏ ấy. Bài thuyết giáo của y đã khai sáng đầu óc đám quần chúng tôi như hũ nút. Thê rồi thiên hạ sốt sắng hô to: “Xuân Tóc Đỏ vạn tuế, sự đại bại vạn tuế”. Sau đó là những lời chúc tụng lu bù, những vinh quang ập đến với Xuân một cách đột ngột. Chính phủ Pháp và An Nam tặng huân chương danh giá, được mời làm cố vấn báo Gõ mõ, là hội viên hội Khai trí tiến đức, đón mừng lời chúc tụng của cảnh sát giới mà cụ thể là Min Đơ, Min Toa, của các chủ khách sạn mà đại diện là Victor Ban, rồi bà Typn thay mặc cho chị em phụ nữ và đặc biệt là ông Phán thay mặc các

Qgười chồng mọc sừng. Tưởng như đã hết thì cuối cùng còn “nẩy nòi” ra ông thầy tướng sô chao ôi là vinh quang nhọc nhằn.

Buồn cười hơn cả là hình ảnh Xuân Tóc Đỏ hứa hẹn xin cho bà Phó Đoan một cái bảng “tiết hạnh khả phong”. Trời ơi, một chi tiết đắc địa đến lạnh người. Một con me Tây dâm loạn, lẳng lơ đỏng đảnh và rửng mỡ, đối lập hoàn toàn với bôn chữ cao quý ấy. Những chi tiết như câu gắt “Nước mẹ gì” của thằng vĩ nhân Xuân lại được khen rối rít và hứa hẹn đưa vào từ điển Đại Việt. Đặc biệt vừa nghe được chính phủ tặng bội tinh, cụ Hồng đã hô to “Bay dân, bày hương án” một gia đình gia phong nề nếp đến thế là cùng. Cách xưng hô “toa”, “moa” của bố con nhà Văn Minh cũng “văn minh” và nực cười đến chừng nào. Việc lẩy ra những sự tương phản, những điều lố bịch chính là để ta thấy rõ hơn cái bản chất băng hoại, suy đồi, sự phá sản hoàn toàn của các giá trị đạo đức truyền thòng. Chính lôi viết tương phán ấy là một nét trong nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng.

Những lời bình, những lời thể hiện trực tiếp thái độ của nhà văn song hành với lời kể của câu chuyện. Chẳng hạn như một bậc vĩ nhân nhũn nhặn, nó giơ quả dấm chào loài người, hay với tài hùng biện của một người đã thổi loa cho hiệu thuốc, với cái tự nhiên của một anh lính chạy cờ rạp hát lại được ông bầu Văn Minh đĩa kèn, Xuân Tóc Đỏ đã chinh phục quần chúng như một nhà chính trị đại tài. Thường thì nhà văn tả chân, nhà văn hiện thực tối kị việc đưa ra những lời nhận xét. Nhưng với Vũ Trọng Phụng thì khác, ông là một nhà văn châm biêm đả kích, là một nhà văn hiện thực đi đối với trào lộng phê phán. Những lời nhận xót của ông vừa mang đâm chất cười dân gian, vừa “humour” một cách trí tuệ, lại vừa gay gắt, chua chát. Đấy cũng là một Đặc điểm trong nghệ thuật trào phúng của ông, dưới ngòi bút đó, tất cả đều hiện nguyên hình với bộ mặt thật bỉ ổi. Với những phẩm chất như vậy, ông xứng đáng trở thành nhà văn hiện thực lớn và văn chương ông đúng là “sự thực ở đời” như ông từng quan niệm.

ĐỀ: Hạnh phúc cua một tang gia (’Chương XV tác phẩm số dó của Vũ Trọng Phụng) là một màn kịch hài đặc sắc.

Em hãy phân tích dể làm sáng tỏ nhận xét trên._______________________

BÀI LÀM

Số đỏ là cuốn tiểu thuyết trào phúng được viết theo khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa. Tác phẩm đã phát huy cao độ tài năng châm biếm, đả kích sắc sảo cua Vũ Trọng Phụng. Thói căm ghét của ông đối với xã hội thối nát không còn là một lời chửi rủa nửa mà nổ ra thành một trận cười sáng khoái, có sức công phá mạnh mẽ tung vào giữa những cái lố bịch, kệch cỡm, nghịch lì của xã hội đương thời. Dưới ngòi bút kì tài của Vũ Trọng Phụng, chương nào đoạn nào cũng thú vị, hấp dẫn như một màn hài kịch trọn vẹn, Đặc biệt và điển hình hơn cả là chương Hạnh phúc của một tang gia.

Với chương này của tác phẩm Số đỏ, khuynh hướng hiện thực trào phúng thể hiện trong văn chương của Vũ Trọng Phụng có thể nói là đạt đến mức hoàn mĩ như chính nhận xét của Vũ Trọng Phụng nhằm đáp lại lời công kích của Nhất Linh năm 1937 ‘‘khi dùng một chữ bẩn thiu tôi chẳng thấy khoái trá như khi các ông tìm dược một kiểu áo phụ nữ mới mẻ, những lúc ấy, tôi chỉ thương hại cái nhân loại ô uế bẩn thỉu, 11Ó bắt tôi phải viết như thế, và nó bắt các ông phải chạy xa sự thực bằng những danh từ diêu trá của văn chương… Đó, thưa các ông, cái chỗ bất đồng ý kiến giữa chúng ta! Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiếu thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết dó là sự thực ở đời…”

Theo tinh thần và tâm huyết đó, ngay trong đầu đề của chương truyện, tác giả đã gởi gắm, tạo ra một tiếng cười châm biếm về cái nghịch lí lạ lùng của nhân tình thế thái. Một gia đình có tang, ở đây là đại tang thì tâm trạng của những người trong gia đình ắt hẳn phải là thương tiếc, sầu não. Đằng này, họ lại hạnh phúc, “Hạnh phúc của một tang gia”! mới nghe có vẻ ngược đời nhưng suy ngẫm kĩ, đọc hết toàn chương, đặt trong hoàn cảnh cụ thế của gia đình này, thì điều hạnh phúc ấy lại hoàn toàn hợp lí, chân thực. Vũ Trọng Phụng sắc sảo trong tiêng cười châm biếm là ở chỗ ấy. Nghịch lí mà hợp lí. Tưởng cường điệu, phóng đại mà lại rất chân thực, chân thực đến cụ thể.

Thật vậy, ở đám tang cụ tổ, gia dinh này ai cũng vui như Tết. Mỗi người, tùy theo quan hệ thân thuộc, sẽ có những hạnh phúc, sự thỏa mãn khác nhau. Ai ai cũng thấy đây là dịp may để họ có thể đạt một nguyện vọng, một ý đồ nào đó.

Cậi chết của cụ tổ, như vậy, dưới mắt của Vũ Trọng Phụng chính là một tình huông điển hình giúp nhà văn xây dựng những tính cách đặc sắc. Qua tính cách này của những người có quan hệ ruột rà với cụ tổ, Vũ Trọng Phụng sẽ có dịp bộc lộ, vạch rõ chân tướng nhố nhăng, lố bịch, thiếu tình người của những hạng người mang danh là thượng lưu, quý phái, văn minh tân thời nhưng thực chất là những cặn bã, quái thai của cái xã hội dở Tây dở ta buổi ấy.

Cái chết của cụ chẳng làm cháu con nào thiếc thương, bới đã từ lâu. họ mong cụ chết cho nhanh để chia gia tài. Chính vì thủ’, cái chết của cụ sẽ đem đến cho họ một niềm vui to lớn, không che giấu hạnh phúc. Ta hãy nghe Vũ Trọng Phụng trần tình: “Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm… “Bọn con cháu vô tâm ai cũng vui sướng thỏa thích …” Người ta tưng bừng, vui vẻ di đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma,… tang gia ai cũng vui vẻ cả”…

Trước hết là cậu tú Tân, cháu nội cụ tổ rất hào hứng, phấn khới vì cậu có dịp trổ tài và sử dụng “mấy cái máy ảnh mà mãi cậu không dược dùng đến”. Vợ Văn Minh (cháu dâu) mừng rỡ vì sẽ “được mặc đồ xô gai tân thời”, và đội “cái mũ mẩn trắng viền đen”… để quảng cáo cho một kiểu đồ tang tân thời!

Người con trai của cụ tố’ sung sướng vì một lí do khác lớn hơn. Cụ cố Hồng “mơ màng đến cái lúc cụ mặc dồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu” để cho thiên hạ bình phẩm, ngợi khen: “úi kìa, con giai nhớn đã già dến thế kia kìa!”

Văn Minh (cháu nội) đã từng du học bôn Tây bao năm, về nước không có lấy một mảnh bằng, chỉ nhăm nhăm nghĩ tới chuyện chia gia tài thì thích thú ra mặt vì “cái chúc thư kia sẽ vào thời kì thực hành chứ không còn là lí thuyết viển vông nữa”. Riêng người cháu rể (Phán mọc sừng) thì khấp khởi, sướng rơn trong bụng vì đã được bố vợ “nói nhỏ vào tai rằng sẽ chia cho con gái và rể thêm một số tiền là vài nghìn đồng. Chính ông ta củng không ngờ rằng giả trị đối sừng hươu vô hỉnh trên đầu ông ta mà lại to đến như thế”. Không khí của đám ma là không khí của một ngày hội. Đây cũng chính là mâu thuẫn trào phúng gây cười ra nước mắt, xuyên suốt hoạt cảnh, tình huông.

Đám ma cũng là dịp hiếm có để trưng bày và quảng cáo các mốt quần áo âu hóa mới nhất của tiệm may vợ chồng Văn Minh – sản phẩm độc đáo của nhà thiết kê mĩ thuật Typn. Đó cũng là dịp đổ cô Tuyết với bộ y phục “Ngây thơ” hỞ hang với nét mặt cố tạo một “vẻ buồn lãng mạn rất dứng mốt một nhà có dám”, khiên cho bao nhiêu vị khách đàn ông “khi trông thấy làn da tráng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực Tuyết” phải xúc động còn hơn nghe tiêng kèn đám ma.

Điều này còn lây lan sang cả những người không phải là thân thích, ruột rà. Những kẻ đi dự đám tang bao gồm đám bạn bò, quan khách. Họ đèn đám ma với đủ mục đích. Họ khoe mề đay, huân chương, những bộ ria mép. Nếu là đàn bà thì đó là dịp để họ đua nhau bình phẩm về người khác. Thật mỉa mai, họ làm tất thảy điều đó “bằng những vẻ mặt buồn rầu của những người di dưa ma” (!)

Người dân hai bên phố đồ ra xem đám ma như một sự lạ. Đám ma to đến nỗi những người trong tang gia cảm thấy hết sức “sung sướng” và hàng phô “nhõn nháo lên khen dám ma to”. Lúc bây giờ, nhà văn lạnh lùng bình luận:

“Dám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái dầu…!”. Thật là mỉa mai. chua xót.

Song song với miêu tả, ngòi bút sắc sảo, nghiêm lạnh của nhà văn trưng lên liên tiếp những chân dung, những tình huông. Đó là những bức biêm hoạ bằng ngôn ngữ giúp người đọc nhận ra chân tướng xã hội, chán tướng những người được mệnh danh là thượng lưu, quý tộc. Ông giúp người đọc nhận ra rằng, đám ma to tát kia quả là có đủ cả nhưng chi thiêu duy nhất một điều, và điều này lại là điều quan trọng nhất, đó là tình người. Thông điệp nhân văn của tác phẩm trở nên rõ ràng sau tiếng cười trào lộng. Nếu con người thực sự thiếu tình người, lòng thương tiếc chân thành với người đã khuất thì đám ma dù lòe loẹt đến mức nào đi

nữa, to tát đến mức nào đi nữa, đó cũng chỉ là hình thức, giả dôi. Rõ ràng, thông điệp ấy không chỉ nhắm, vào thời đại của Vũ Trọng Phụng, tính thời sự của bức thông điệp này có ý nghĩa với tất cả chúng ta!

Mấy chi tiết đặc tả cảnh hạ huyệt càng mỉa mai, trào phúng. Nó được dàn dựng bởi một bàn tay đạo diễn non nớt, lộ liễu. Cậu tú Tân bắt từng người phải chống gậy, gục đầu, cong lưng lau mắt… đổ cậu chụp ảnh. Trong khi, bạn hữu của cậu “rầm rộ nhảy lên những ngôi mả khác mà chụp để cho ảnh khỏi giông nhau”.

Chất bi hài của cảnh được đặc tả làm bật lên tiêng cười… ra nước mắt. Rồi tiếng khóc đặc biệt, như một điệp khúc của ông Phán mọc sừng: “ông Phán oặt người di, khóc mãi không thôi”. Ỏng khóc: “Hứt!… Hứtỉ… ỉ lứt!…” Nêu có thố’ nói rằng, chi tiết làm nôn nhà văn lớn thì ở đây, chi tiết được đặc tả của Vũ Trọng Phụng đã đạt đến mức hoàn thiện.

Qua chương Hạnh phúc của một tang gia, Vũ Trọng Phụng đã thể hiện tài năng kế chuyện bậc thầy của một nhà văn chàm biêm trào phúng. Bút pháp của ông giỏi ở chỗ nêu nghịch lí mà hợp lí trong hoàn cảnh, mẫu người cụ thế. Phóng đại, hư cấu mà như thật. Ông chú ý đến sự đối kháng giữa hiện tượng và bán chất, sự thực và giả dối. Ổng khai thác triệt để, đầy góc cạnh nhằm tạo ra những tràng cười có ý nghĩa phô phán sâu sắc. Ông vạch rõ chân tướng của một lớp người, cảnh báo về sự băng hoại xã hội nếu xã hội vẫn tồn tại hạng người ấy. Bức thông điệp này lại được thể hiện bằng năng lực trào phúng sắc sảo của ông khiến cho giá trị của Số đỏ càng trở nên bền vững.

Có thể nói rằng, Sô đỏ là một bức biếm họa đầy chi tiết của một thời và một đời

Nguồn:

Làm sáng tỏ vấn đề của nhà thơ Tố Hữu về văn học

Bài làm

“Văn học là nhân học”

Đại văn hào Nga, Maxim-Gorki, khẳng định như thế. Nhưng để cho người tiếp nhận tác phẩm văn học một cách thấu đáo như Gorki thật là một vấn đề rất khó. Đôi với những người dạy Văn, học Văn, ý kiên của Gorki có sức thuyết phục mạnh mẽ. Tương tự như Gorki, nhà thơ Tô Hữu đã nhắn nhủ thầy cô giáo cùng các em học sinh:

“Dạy Văn học, học Văn học là một niềm vui sướng lớn. Qua mỗi giờ Văn học, thầy, cô giáo có thể làm rung động các em, làm các em yêu đời, yêu lẽ sông và lớn thêm một chút”.

Như chúng ta đã biết, Văn học không như những môn khoa học tự nhiên khác: Toán, Lý, Hóa, Tin học,… Văn học là một bộ môn nghệ thuật rất khó. Văn học không những đáp ứng nhu cảu giải trí của con người mà còn cung cấp một lượng kiến thức khá phong phú cho chúng ta về tinh thần. Văn học giúp chúng ta biết yêu ghét, phân biệt phái trái; biết ca ngợi cái chân- thiện -mỹ, lên án cái độc ác, xấu xa…

Vì sao nhà tho’ Tố Hữu nói: “Dạy Văn học, học Văn học là một niềm vui sướng lớn?”.

Dạy Văn học là cung cấp kiến thức Văn học cho học sinh thông qua công tác truyền đạt của nhà sư phạm chuyên ngành. Các em học sinh trong quá trình soạn bài hoặc tìm hiểu tác phẩm, chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn. Tại giờ học Văn, thầy (cô) giáo sẽ giải thích, phân tích hoặc bình giảng một cách cặn kẽ, thấu đáo, giúp các em chưa hiểu hoặc ít hiểu đến chỗ hiểu cơ bản hoặc hiểu sâu sắc tác phẩm Văn học ấy. Để có được diều này, rất cần đến kinh nghiệm, năng lực của thầy (cô) giáo. Vì giáo viên và học sinh được tiếp xúc với những kiệt tác Văn học đặc sắc trong và ngoài nước nên họ cảm thây rất sung sướng. Hơn nữa, giáo viên cảm thấy tự hào bởi mình được phân công công tác trồng người, được giáo dục đàn em thân yêu, được đứng trên bục giảng, có cơ hội để thể hiện năng lực của mình… Còn học sinh được tiếp thu nguồn kiến thức quý báu của nhân loại, được học làm người qua các tác phẩm Văn học mà thầy (cô) giáo giảng dạy. Bởi vậy, các em cảm thấy hạnh phúc lắm.

Tại sao “Qua mỗi giờ Văn học, thầy (cô) giáo có thể làm rung động các em, làm các em yêu đời, yêu lẽ sông và lớn thêm một chút.’ ?

Có thề nói rằng, cuộc sống đời thường khá tất bật. Chỉ có đôn trường đến lớpmột môi trường sư phạm trong sáng – lại được các thầy cô giáo có năng lực và tâm b’ ‘.yết dìu dắt, tâm hồn các em học sinh được tập trung lắng đọng và mở rộng, nên các em cảm thấy say sưa, thú vị, trong giò’ học Văn. Từ đó, càng cảm, càng thấu hiểu tác -phẩm Văn học, tâm hồn các em càng dễ rung động.

Thuở còn cắp sách đến trường nghe thầy giáo đọc thơ, Trần Đãng Khoa thấy “đất trời đẹp ra”, thấy cuộc đời thật đẹp, thật đáng yêu:

“Em nghe thầy đọc bao ngày Tiếng thơ đỏ nắng, xanh cây quanh nhà Mái chèo nghe vọng sông xa Em êm nghe tiếng của bà năm xưa Nghe trăng thở động tàu dừa Rào rào nghe chuyển cơn mưa giữa trời Thèm yêu tiếng hát nụ cười Nghe thơ em thấy đất trời đẹp ra”.

Những học sinh có tâm hồn như Trần Đăng Khoa không phải là ít. Tâm hồn của các em thơ ngây, trong trắng và đẹp lắm! Chỉ cần “những kĩ sư tâm hồn” khơi gợi đúng nguồn là các em sẽ “lớn thêm một chút”, thậm chí tâm hồn các em còn cất cánh bay cao hơn nữa.

Đã một lần, trong giờ học nâng cao kiến thức bộ môn Văn dành cho học sinh lớp chuyên, em được thầy giáo giảng bài thơ sau đây của Tô Đông Pha (Tô Thức), một đại thi hào đời Tông:

“Rượu kia không uống sao say Ngựa di thì tấm lòng này cùng đi Em về bịn rịn đỉnh vi Anh nay an ủi bằng gi? Quanh côi!

Lèn cao ngoái lại nương đồi Mủ đen thấp thoáng khuất rồi lại nhô Áo đen mỏng, lòng anh lo Lo con ngựa Ốm quanh co trăng tà ơ, đi đáng lẽ vui ca,

Tiểu đồng sửng sốt sao ta quá sầu!

Biệt li có lạ gì đâu Chỉ e ngày tháng dãi dầu vụt trôi.

Nhớ xưa đèn lạnh đôi hồi Cái đêm hiu quạnh cùng ngồi nghe mưa Y này em đã nhớ chưa?

Quan cao chức trọng say sưa làm gi”.

(Hoa Bằng dịch)

Bài thơ miêu tả cuộc chia tay bịn rịn giữa Tô Đông Phạ với em T^ai là Tử Do – một tiên sĩ triều Gia Hựu. Tình cảm anh em của Tô

Dông Pha vô cùng thắm thiết. Tử Do đã lên yên ngựa vồ đi xa rồi mò Tô Đông Pha hãy còn trèo lên cao đế ngóng trông theo. Tiết trời rét lạnh, nghĩ đến Tử Do mặc áo lông cừu mỏng manh, đi bằng con ngựa gầy trong gió sương mà lòng dạ Tô Đông Pha xót xa. Cuộc chia tay nào mà chẳng buồn? Dù biết rằng thế nhưng Tô Đông Pha không muốn xa cách đứa em trai thân yêu lâu ngày dài tháng. Đứng trên cao nhìn ánh trăng tàn, Tô Đông Pha bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm xưa cùng em ngồi đối diện trước ngọn đèn, lặng lẽ đêm từng hạt mưa rơi. Mưa đêm ấy lạnh nhưng có em bên cạnh, lòng Tô Đông Pha cảm thấy ấm áp. Tô Đông Pha khuyên em đừng luyến tiếc quyền cao chức trọng, hãy sông một cuộc đời thanh bạch, hướng thượng. Bởi vậy, tiễn em đi rồi, Tô Đông Pha hãy còn lo lắng rằng em có nhớ lời anh dặn dò nhắn nhủ chăng? Thật đúng là “anh em như thể tay chân”.

Một điều chắc chắn rằng: nếu không có thầy giảng giải, phân tích bài thơ trên thì em không bao giờ hiểu hết nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đặc biệt là tâm sự của Tô Đông Pha, vì đây là bài thơ viết bằng chữ Hán. Chính vì hiểu thơ Tô Đông Pha, em lại yêu thích thơ Tống. Em cảm thấy thơ Tông vẫn mênh mông bát ngát tình, hàm súc, cô đọng như thơ Đường. Ngoài ra, lòng em vui sướng vì mình được tiếp thu thêm nhiều kiến thức mới mẻ, cổ điển, độc đáo. Tâm hồn em thật sự rung động trước tình anh em cao quý của Tô Đông Pha. Em xem bài thơ ấy là một bài học hay dành cho em về tình huynh đệ. Điều đó không chỉ là niềm vui sướng lớn đối với em mà còn là niềm hạnh phúc vô biên của thầy em.

Trong một buổi học nâng cao khác, em lại được thầy giáo giảng cho nghe kiệt tác Sô phận con người của đại Văn hào Nga Sôlôkhôp người từng đạt giải thưởng Nôben về Văn học năm 1965 với bộ tiểu thuyết Sông Đông êm đềm. Kiệt tác số phận con người gồm phần mơ đầu, phần kết thúc và ba chương: Chương I là tiểu sử của Xôcôlôp từ những năm trai trẻ đến thời gian chiến tranh vệ quốc bắt đầu. Những năm nội chiến, anh tham gia Hồng Quân. Năm đói 1922 cả nhà chết đói, chỉ mình anh đi làm thuê cho Culắc nên sống sót. Xôcôlôp làm nghề mộc, nghề nguội rồi lấy vợ, dần dần xây dựng được một gia đình hạnh phúc, có nhà cửa, vợ hiền và ba con. ơ chương II, chiến tranh bùng nổ, Xôcôlôp từ giã vợ con ra mặt trận. Anh bị phát xít bắt

làm tù binh, phải chịu đựng bao sự tra tấn dã man của kẻ thù. Cuối cùng Xôcôlôp chạy trốn khỏi trại tù, trở về với Hồng Quân, về đơn vị được ít lâu thì anh nhận được tin đau đớn: một trái bom của máy bay phát xít đã chôn vùi ngôi nhà cùng vợ và hai con gái của anh. ở chương III: một hi vọng mới sưởi ấm tâm hồn giá lạnh của Xôcôlôp: anh nhận được thư của người con trai lớn nay đã là một đại uý pháo binh. Khi chiến tranh sắp kết thúc, tiến quân gần đến Béc lin, Xôcôlôp chờ đợi giây phút bố con gặp nhau. Và anh đã được gọi đến đế nhìn mặt con lần cuối cùng, con trai anh đã bị tử trận vào ngày mồng chín tháng năm, ngày chiến thắng.

Điều mà em xúc động nhất khi được làm quen với tác phẩm này là đoạn nói về sự đau thương mất mát của con người do chiến tranh gây ra. Khi nghe thầy giảng đến đoạn Xôcôlôp trở về sau ngày hòa bình, em đã cố nén cho những giọt nước mắt chảy vào lòng. Xôcôlôp đã lần lượt mất tất cả trong chiến tranh, trái tim của anh không bao giờ như xưa nữa mặc dù có bé Vania – một đứa trẻ côi cút-sưởi ấm trái tim giá lạnh của anh. Xôcôlôp đã tâm sự: “Trái tim của tôi đã rệu rã lắm rồi… có khi tự nhiên nó nhói lên, thắt lại vào giữa ban ngày mà tối tăm mặt mũi… hầu như đêm nào tôi cũng chiêm bao thấy những người thân đã quá cố… ban ngày bao giờ tôi cũng trấn tĩnh được, không thở ra một tiếng thở dài, một lời .han vãn, nhưng ban đêm thức giấc thì gối đẫm nước mắt…”. Chiến tranh là như vậy đó! Tiếng súng đã im, bom đạn đã thôi rơi… Nhưng vết thương tâm hồn vẫn còn âm ỉ mãi, được dịp là nó tái phát đau nhói, không có sự bù đắp cũng như không có loại thuốc nào chữa khỏi.

Mặc dù giờ học đã kết thúc, thầy giáo rời lớp nhưng em vẫn còn nghe văng vẳng bên tai giọng nói ấm áp, dạt dào cảm xúc của thầy. Cũng như nhiều bài giảng văn khác, bài giảng về kiệt tác Số phận con người đã không những làm cho em mê say, thích thú mà còn mở ra trước mắt em một cái nhìn đồng cảm với cái nhìn mới đầy nhân bản của Xôlôkhốp trong kiệt tác này nói riêng và trong Văn học Xô viết đôi với chiến tranh nói chung.

Tóm lại, văn chương giáo dục chúng ta rất nhiều; có ích cho tư tưởng tình cảm của chúng ta. Cuộc đời sẽ đẹp đẽ biết bao khi văn chương sống mãi mãi với thời gian và những người dạy Văn học, học Văn học sẽ vui sướng biết bao khi được tiếp xúc, tìm hiểu một cách thường xuyên, sâu sắc với văn chương. Văn chương sẽ giúp cho chúng ta được phát triển toàn diện về nhân cách lẫn tâm hồn. Chúng ta hãy cố gắng học Văn để khám phá thế giới, nâng cao sự hiểu biết về con người, cuộc đời cũng như gìn giữ tư tưởng và bồi dưỡng tình cảm ngày càng trong sáng, tốt đẹp để vươn tới chủ nghĩa Nhân văn.

Nguồn:

Viết thư góp ý cho bạn về cái nhìn đúng đắn về các môn toàn và văn

DÀN BÀI

1.Mở bài

Nêu lí do cần trao đổi với bạn về việc học văn.

2.Thân bài

a.  Giải thích tác dụng của văn học

–     Văn học là sản phẩm tinh thần của mỗi dần tộc, là tấm gương phản ánh hiện thực xã hội. Thông qua văn học, chúng ta nhận thức được nhiều điều bổ ích về con người và cuộc sống trong quá khứ cũng như trong hiện tại.

–     Văn học là món ăn tinh thần không thể thiếu của mỗi con người. Nó làm tâm hồn thêm phong phú, nhạy cảm, giúp cho con người hoàn thiện nhân cách. Văn học còn là phương tiện giải trí lành mạnh và bổ ích.

b.Giải thích sự cần thiết của việc học văn

+ Học văn là học tiếng mẹ đẻ, học cách diễn đạt lời ăn tiếng nói của dân tộc qua ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Hai điều này rất cần thiết đối với mỗi người.

NHỮNG BÀI VÂN MẪU 10/2

–     Sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong mọi lĩnh vực hoạt động khác.

–     Kĩ năng nói và viết được sử dụng hằng ngày. Nó là một phương tiện giao tiếp quan trọng (dẫn chứng).

+ Học văn để nâng cao nhận thức, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, năng lực thẩm mĩ (dẫn chứng). Học văn cũng là học đạo làm người.

c.  Nâng cao, mở rộng vấn đề

Tác dụng của việc học tập toàn diện: làm cho con người phát triển cân đối cả về trí tuệ lẫn tâm hồn, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

3.Kết bài

–     Khẳng định sự cần thiết của việc học văn.

–     Khuyên bạn nên học tốt cả toán lẫn văn để trở thành người toàn diện.

BÀI LÀM

Tâm thân mến!

Mình đã nhận được thư của bạn. Được biết bạn đoạt giải nhất kì thi Toán khối 10 toàn thành phố, mình mừng lắm! Cho mình chia vui cùng bạn nhé!

Bên cạnh niềm vui lớn ấy, còn có điều này khiến mình băn khoăn: Bạn nói là bạn vẫn chưa yêu thích môn văn và bạn ít dành thời giờ cho nó vì nghĩ rằng nó không cần thiết. Mình nhớ năm ngoái, lúc hai đứa còn học chung lớp, chung trường, có lần bạn nói với mình rằng, sau này khi tốt nghiệp phổ thông trung học, bàn sẽ thi vào một trường đại học nào đó thuộc khối A. Như vậy chỉ cần học văn sao cho đủ điểm trung bình là được, Mình không đồng ý với cách nghĩ ấy và chúng ta đã tranh luận hàng giờ với nhau. Nhân dịp này, mình trao đổi thêm với bạn về chuyện học văn nhé!

Có thể nói, lịch sử phát triển của văn học cũng lâu đời như lịch sử phát triển của toán học vậy. Từ xa xưa, con người đã biết sử dụng văn học như một phương tiện để lưu truyền kinh nghiệm và phản ánh đời sống xã hội. Dân tộc nào trên thế giới cũng coi văn học là sản phẩm tinh thần cao quý của dân tộc mình.

Thông qua văn học, chúng ta nhận thức được nhiều điều bổ ích về con người, về cuộc sống trong quá khứ cũng như hiện đại. Đọc ca dao, tục ngữ hay thần thoại, cổ tích, chúng ta hình dung được tổ tiên, ôngcha ta ngày xưa sinh sống ra sao trong suốt mấy ngàn năm đựng nước và giữ nước. Những ước mơ, khát vọng chinh phục thiên nhiên, những bài học về đạo lí, kinh nghiệm sống được’gửi gắm qua các loại hình văn học từ lúc còn truyền miệng cho đến khi có chữ viết… cứ thấm dần vào máu thịt, sau một thời gian dài, tạo nên đời sống tinh thần phong phú cho mỗi con người.

Văn học hướng con người tới Chân, Thiện, Mĩ của cuộc đời. Vì vậy, nó là món ăn tinh thần không thể thiếu. Nó giúp con người hoàn thiện nhân cách để trở nên hữu ích đối với gia đình và xã hội. Ngoài ra, văn học còn là một phương tiện giải trí lành mạnh và bổ ích.

Tác dụng của văn học lớn lao như thế nên việc học văn rất cần thiết.

Chúng ta học văn tức là học tiếng nói của dân tộc, tiếng mẹ đẻ thân yêu. Bạn cứ nghĩ xem, người nước ngoài sẽ đánh giá thế nào khi một người Việt mà lại không rành tiếng Việt? Điều đó sẽ gây trở ngại lớn trong học tập cũng như trong giao tiếp hằng ngày. Việc học văn sẽ giúp chúng ta có được kĩ năng sử dụng thành thạo ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Hai kĩ năng này liên quan chặt chẽ với nhau và là cơ sở để chúng ta học tốt các môn khác. Có thể nói không có một lĩnh vực khoa học nào lại không cần đến ngôn ngữ làm phương tiện, dưới hình thức này hay hình thức khác, dù ít hay nhiều.

Bên cạnh việc học tốt tiếng Việt, chúng ta còn học làm văn, tức là học cách viết các loại văn bản khác nhau thường sử dụng trong cuộc sống hằng ngày. Một bức thư, một lá đơn, một bản báo cáo, một câu chuyện… muốn viết cho đúng, cho hay đều phải học cả đấy Tâm ạ! Học và thực hành. Học ở trên lớp, học thêm ở nhà và thường xuyên đọc sách để nâng cao hiểu biết. Đó là những điều nên làm trong quá trình học văn.

Tâm thân mến!

Mình biết Tâm say mê học toán, thậm chí còn mơ sẽ trở thành một nhà toán học trong tương lai nữa. Điều đó rất đáng quý, mình ủng hộ bạn, nhưng ai cấm một nhà toán học vừa có tư duy chính xác lại vừa có tâm hồn phong phú, nhạy cảm của một nghệ sĩ? Sẽ thú vị biết bao khi đọc một bài thơ, một truyện ngắn, một tiểu thuyết nào đó, ta hiểu được cái hay, cái đẹp của nó và rút ra từ tác phẩm những bài học bổ ích cho mình? Hiểu được con người và cuộc sống xung quanh ta, đó là hạnh phúc, là niềm vui phải không bạn?

Văn chương phản ánh cái hay, cái đẹp, cái tinh túy của cuộc sống. Bởi vậy, nếu thiếu văn chương, cuộc sống sẽ tầm thường, tẻ nhạtvà tâm hồn con người sẽ khô cằn. Công việc căng thẳng gây mệt mỏi cho thể xác, văn chương giải tỏa sự mệt mỏi ấy và làm tăng niềm vui, niềm tin cho con người. Trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển với tốc độ nhanh chóng như hiện nay, văn chương lại càng cần thiết như khí trời và ánh nắng vậy.

Còn một điều mình thấy cần nói với Tâm. Tâm thi vào khối A, đương nhiên các bạn cùng thi đều học giỏi các môn tự nhiên. Nếu đến lúc chúng ta thi đại học, các trường đều phải thi môn Văn mà điểm văn của Tâm thấp thì chắc Tâm khó mà thực hiện được ước mơ.

Việc học văn rất cần thiết như vậy nên bạn không được coi nhẹ nó. Mình rất mong bạn sẽ dần dần yêu thích môn văn và học tốt môn văn như môn toán. Sau này bạn sẽ thấy những lời mình trao đổi với bạn hôm nay là đúng. Con người phát triển toàn diện chính là mẫu người lí tưởng của xã hội mới, phải không bạn? Mình với bạn sẽ cùng nhau phấn đấu nhé! Bạn đồng ý với mình chứ?

Thôi, cuộc trao đổi của chúng mình tạm dừng ở đây, hẹn đến nghỉ hè, ta sẽ trao đổi tiếp. Chúc bạn khỏe, vui, đạt được nhiều thành tích trong học tập và phấn đấu!

Mong sớm nhận được tin của bạn!

Thân ái Linh

Nguồn:

Đột quỵ não: Cần xử trí sớm và đúng cách

Suckhoedoisong.vn – Đột quỵ não (tai biến mạch máu não) là vấn đề thời sự của các nước đang phát triển. Đây là tình trạng mất đột ngột lưu lượng máu tới não hoặc chảy máu bên trong sọ dẫn đến giảm, mất chức năng…

Copyright © 2018 Xuân Hải Ml