Xuân Hải Ml

Xuân Hải Ml

Thuyết minh về sự giản dị trong bài thơ Gánh nước đêm

Bài làm

Trong những năm hai mươi của thế kỷ XX, nền văn học Việt Nam xuất hiện nhiều nhà thơ, nhà văn giàu lòng yêu nước như Hồ

Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn, Tản Đà, Nguyễn Bá Học, Á Nam Trần Tuấn Khải,… Cùng với Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải đã mạnh dạn đưa các điệu hát dân gian vào tho’ để diễn tả tâm sự những người yêu nước lo đời kín đáo mà thiết tha. Bài thơ Gánh nước đêm của Trần Tuấn Khải được in trong tập Duyên nợ phù sinh, quyển I – năm 1921 là một bài thơ hay được truyền tụng rộng rãi. Tạp chí Nam Phong tháng 05 – 1921, có bài viết nhận xét nét đặc sắc của bài thơ như sau:

“Bài thơ Gánh nước đèm lời văn giản dị mà ý tứ sâu xa biết bao nhiều..”.

Chúng ta hãy đọc lại bài thơ này:

GÁNH NƯỚC ĐÊM

Em bước chân ra,

Con đường xa tít,

Non sông mù mịt,

Bên vai kĩu kịt,

Nặng gánh em trở về,

Ngoảnh cổ trông sông rộng trời khuya…

Vì chưng nước cạn, nặng nể em dám kêu ai!

Nghĩ tiếc công cho bà Nữ Oa đội đá vá trời,

Con dã tràng lấp bể biết đời nào xong?

Nước non gánh nặng,

Cái đức ông chồng hay hỡi, có hay?

Em trở vai này…!.

Chỉ cần đọc qua một lần, độc giả sẽ nhận ra bài thơ có tính nhạc. Những thanh bằng trắc khi trầm, khi bổng như những làn điệu dân ca ngọt ngào êm ái. Bởi thế, trong tập thơ Duyên nợ phù sinh, bài thơ được xếp vào mục “Câu hát Vặt” – những điệu hát dân gian rất phổ biến trong tầng lớp bình dân. Nhà thơ Xuân Diệu cho rằng bài thơ viết theo điệu “bồng mạc vỉa sang sa mạc” có nguồn gốc từ những làn điệu dân ca ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, “phóng túng về cấu trúc, sáng tạo về âm thanh”, là dạng biến thể của thơ lục bát, là bài thơ “hay nhất, trứ danh của Á Nam”.

Bài thơ nói lên tâm sự của người phụ nữ gánh nước giữa đêm

khuya thanh vắng, đường sá xa xôi, đòn gánh nặng oằn trên đôi vai bé nhỏ. Hình ảnh người phụ nữ càng lúc càng khuất dần trong màn đêm bủa giăng thật cảm động.

Nhưng chỉ hiểu nội dung bài thơ một cách “giản dị” như thế thì cái hay của bài thơ sẽ giảm đi nhiều lắm.

Thật ra, bài thơ này có hai tầng nghĩa: nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn. Nghĩa hàm ẩn chính là tâm sự muốn gửi gắm của Trần Tuấn Khải. Muốn hiểu được cái ý tứ sâu xa ấy, chúng ta cần tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử nước Việt Nam đương thời và tác động của nó đến văn học.

Như trên đã nói, năm 1921 tập thơ được in nhưng Trần Tuấn Khải đã sáng tác bài thơ này năm 1917. Trước đó khởi nghĩa của binh lính Huế (1916) do Thái Phiên và Trần Cao Vân cầm đầu đã thất bại. Vua Duy Tân bị giặc bắt và bị đày ra đảo Rê-uy-ni-ông ở châu Phi. Thái Phiên và Trần Cao Vân bị xử tử. Ngay năm 1917, cuộc khởi nghĩa của binh lính Thái Nguyên do Trịnh Văn cấn (Đội Cấn) cầm đầu nổ ra đêm 30, rạng sáng ngày 31 – 08 – 1917 thất bại. Trịnh Văn Cấn tự sát. Còn Nguyễn Ái Quốc, đang bôn ba khắp châu Phi, Mỹ, Âu để tìm đường giải phóng cho dân tộc. Đến tháng 12 – 1917, Nguyễn Ái Quốc đã trở lại Pháp.

Xét về đặc điểm chung của Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng Tháng Tám – 1945, chúng ta thấy Trần Tuấn Khải thuộc nhóm văn học công khai, hợp pháp nhưng vẫn chịu sự kiểm tra giám sát rất gắt gao của bọn thực dân Pháp. Do đó, nhà thơ, nhà văn nào muốn nói lên lòng yêu nước của mình cũng đều phải diễn đạt trong thơ văn bằng những lời lẽ xa xôi, bóng gió.

Như vậy hình ảnh “nước” trong bài Gánh nước đèm ngoài ý nghĩa là “nước” còn có ý nghĩa là “đất nước”. Từ “gánh” không chỉ là một động tác cụ thể mà còn là “gánh vác”, đảm đương, … Trong bài thơ, cô gái “Ngoảnh cổ trông sông rộng trời khuya..” chính là trông chờ người tài giỏi ra gánh vác việc nước. Nhưng tâm trạng cô buồn bã, chua xót:

“Nghĩ tiếc công cho bà Nữ Oa đội đá vá trời,

Con dã tràng lấp bể biết đời nào xong?”.

Theo thần thoại Trung Quốc, Nữ Oa là một nữ thần khổng lồ, đã làm một chuyện hết sức phi thường là đội đá vá trời. Còn “dã tràng” là loài động vật giáp xác nhỏ giống như cua, sống ở bãi biển, thường đào lỗ rê cát thành những viên tròn nhỏ nhưng nước triều lên lại xoá sạch. Hình ảnh ”Nữ Oà’ và “con dã tràng” đã nói lên sự thất vọng chán chường của cô gái trước thời cuộc. Phải chăng các cuộc khởi nghĩa cứu nước của binh lính chìm trong biển máu đã làm cô bi quan? Phải chăng sự khủng hoảng về đường lối lãnh đạo đã khiến lòng cô gái dao động, thiếu tự tin?

Có thể nói rằng, bằng hình ảnh ẩn dụ, Trần Tuấn Khải đã kí thác tâm trạng của mình qua nỗi lòng của cô gái gánh nước đêm. Cái nhìn của nhà thơ về vận mệnh đất nước có phần tiêu cực. Tuy nhiên, lòng yêu nước của nhà thơ vẫn tràn đầy. Nhà thơ kêu gọi mọi người dù “nước non gánh nặng đến mấy” vẫn phải tiếp tục “gánh vác” chứ không được bỏ cuộc giữa đàng.

Tóm lại, càng hiểu được “ý tứ sâu xà’ của bài thơ Gánh nước đêm, chúng ta càng yêu quý thơ văn yêu nước của Á Nam Trần Tuấn Khải nhiều thêm. Chúng ta hoàn toàn chia sẻ lời nhận định của tạp chí Nam Phong về tập thơ Duyên nợ phù sinh cũng như bài này: “Túng sử cả tập thơ chỉ được có mệt bài này củng đáng khen, huống chi còn nhiều bài hay nữa”. Và chúng ta hãy nhiệt liệt ủng hộ quan điểm sáng tác văn chương cao đẹp của Á Nam Trần Tuấn Khải:

“Đời không duyên nợ thà không sống Văn có non sông mới có hồn”.

Nguồn:

Bài văn siêu hay thuyết mình về cây bút lông

Sự phát minh bút lông cũng như các văn cụ khác như mực (mặc), giấy (chỉ), nghiên mực (nghiễn) mà người trung quốc quen gọi là văn phòng tứ bảo giữ vai trò quan trọng trong việc truyền bá văn hóa, truyền thụ tri thức, sáng tạo nghệ thuật. Cây bút lông hoàn toàn khác hẳn dụng cụ viết ở các nước khác, bởi vì ỏ’ các nước khác có sự phân biệt rõ dụng cụ viết (bút) và dụng cụ vẽ (cọ) còn ở trung quốc thì không. Bút lông kiêm luôn hai chức năng viết và vẽ. Môn thư pháp (calligraphy) từ lâu vốn được xem là loại hình nghệ thuật đặc biệt. Thư pháp gia, tức nhà viết chữ đẹp, vẫn được coi trọng như họa gia.

Nói chung, người ta cho rằng mông điềm (một đại tướng nhà tần) chế tạo bút lông, thái luân (đời tiền hán) chế tạo giấy và hình di (đời hán) chê tạo mực. Trong quyển thiên tự văn của vương hi chi có câu: “điềm hút luân chỉ”. (mông điềm tạo bút, thái luân tạo giấy). Thực ra, không phải mông điềm phát minh bút lông, bởi lẽ các cổ vật

Khai quật được mà các nhà khảo cổ cho rằng có trước thời đại mông điềm trên ngàn năm – chứng tỏ cố nhân đã biết dùng bút. Trên những mảnh xương trinh bốc (oracle bones) khai quật được tại an dương (hà nam) có ghi những nét chữ hao nét bút lông chứ không phải nét khắc vạch. Hơn nữa, trong sử kí của tư mã thiên nơi tiểu truyện của mông điềm không đề cập việc phát minh bút lông.

Trước đời tần, cây bút lông gọi là duật, sau đời tần, chữ duật được thêm bộ trúc và gọi là bút. Sự thay đổi này có ghi trong quyển cổ kim chú: thời xưa cây bút làm bằng gỗ, về sau cán bút bằng gỗ nhưng đầu có gắn búp lông. Lõi búp lông bằng lông nai và bọc bên ngoài bằng lông dê. Đến thời mông điềm, cán gỗ được thay bằng cán trúc và búp lông được làm bằng lông thỏ. Quyển thuyết văn giải tự có ghi: “người nước sở gọi nó là duật, người nước ngô gọi là bất duật, người nước yên gọi là phất, người nước tần gọi là bút”. (sở vị duật, ngô nhân vị chi bất duật, yên vị chi phất, tần vi chị bút).

Quyển bút kinh của vương hi chỉ (303 – 370) có nói đến việc các quan chức nhà hán cống nạp triều đình lông thỏ để làm bút. Tác giả ngợi khen lông thỏ của nước triệu là loại cực phẩm. Điều này cho thấy việc sử dụng bút lông thỏ rất được ưa chuộng và phổ biến vào đời hán. Tuy tác giả không nói cán bút bằng vật liệu gì nhưng căn cứ trên mặt chữ, chữ duật được thay bằng chữ bút chứng tỏ việc lấy trúc làm cán bút quả là rất phổ biến vậy.

Vào khoảng năm 1970, các cây bút được khai quật tại cam túc được giám định có vào đời hán, và hình dáng giống cây bút lông ngày nay. Trong bảo tàng viện hoàng cung quốc gia (national palace museum) tại đài loan hiện đang bảo tồn một bộ sưu tập bút lông đời thanh, trong đó có một số bút dùng trong triều càn long (1736 – 1795), lẽ đương nhiên đó là những cây bút thượng hảo hạng.

Hồ châu là địa phương nổi tiếng về chế tạo bút. Khi chế tạo bút, người ta thường dùng lông thỏ, lông dê, lông chó sói hoặc kết hợp các thứ lông này theo một tỉ lệ tương xứng để bút có được những hiệu quả khác nhau. Cho đến nay, lông thỏ tốt nhất không đâu bằng trung sơn. Do độ cứng mềm của từng loại lông và do phạm vi sử dụng của bút, người ta phân biệt hai loại chính: nhóm bút lông mềm (nhuyễn hào bút) và nhóm bút lông cứng (ngạnh hào bút). Mỗi nhóm gồm nhiều loại khác nhau và có đủ cỡ đại/ trung/ tiểu.

1.   Nhóm bút lông mềm (nhuyễn bút) chủ yếu làm bằng lông dê gồm có:

*   đề bút (cũng gọi là đẩu bút): loại bút cực lớn, các thư pháp gia thường dùng viết đại tự, các họa gia ít dùng.

*   bạc vân bút:bút làm bằng lông dê và một ít lông cứng. Sự tiện dụng của bút là tính cương nhu, có thể vẽ trên thục chỉ (giấy chín) hoặc trên lụa. Rất thích hợp vẽ những hoa mềm mại. Bút có ba cỡ.

*   nhiễm bút, đài bút, trước sắc bút:ba loai này làm bằng lông dê, dùng tô màu hay chấm những điểm rêu. Bút có ba cỡ.

*    bạc khuê:dùng vẽ đường nét trên lụa hoặc thục chỉ. Bút có ba cỡ.

*   bài bút: nhiều cây bút ghép lại như chiếc bè, dùng để quét những mảng màu lớn.

2.    Nhóm bút lông cứng (ngạnh bút) gồm có:

*    đề bút:bút cực lớn bằng lông cứng, người ta ít dùng.

*   lan trúc bút: bút bằng lông sói hoặc lông chồn (lông sói cứng hơn lông chồn một ít), dùng vẽ lan, trúc hoặc những nét thô lớn, cũng có thể dùng để vẽ nếp nhăn y phục. Bút có ba cỡ.

*   thư họa bút: bút được dùng nhiều nhất vì thích hợp viết chữ cũng như vẽ đủ loại: nhân vật, sơn thủy, hoa điểu. Bút có ba cỡ.

*    linh mao họa bút : dùng vẽ lông chim. Bút có ba cỡ.

*   điểm mai bứt, diệp cán bút, lang khuê bút, v.ư…Nói chung đây là những bút nhỏ lông cứng bằng lông sói, dùng vẽ những đường nét nhỏ như điểm hoa mai, vẽ gân lá… Phạm vi sử dụng bút cũng khác nhau: khi thấm màu hay tô màu dùng bút mềm lông dê, khi vẽ đường nét dùng bút cứng lông sói. Đối với giấy hay lụa, tùy theo thô hay mịn mà dùng bút lông cứng hay mềm. Giấy vẽ có phèn rồi gọi là thục chỉ (giấy chín), giấy vẽ chưa phèn gọi là sinh chỉ (giấy sống). Khi vẽ sinh chỉ dùng bút lông cứng, khi vẽ thục chỉ dùng bút lông mềm. Đối với lụa, vì trước khi vẽ cần phải phèn qua nên theo nguyên tắc phải dùng bút lông mềm hoặc bút làm bằng cả hai thứ lông cứng và mềm gọi là kiểm hào bút.

Bút dùng lâu ngày trở nên tưa còn gọi là thoái bút mà ta không nên vất bỏ vì nó rất tuyệt diệu khi viết chữ thảo. Giới hội họa có câu: người họa sĩ không bao giờ ném bỏ bút cũ. Một họa gia đời thanh là trách lãng trong quyển họa sự vi ngôn có nói: “bút lông cứng để vẽ

Đường nét, bút lông mềm để tô màu, bút mới để vẽ những nét công phu tỉ mỉ (công bút), bút cũ để mô tả tượng trưng theo lối tả ý (ý bút), bút lông cứng để vẽ chi tiết, bút lông mềm để quét màu, bút lông cứng đầu nhọn đế vẽ gân lá, bút cù lông cứng đê chấm những điểm rêu, bút lớn lông mềm đề quét mực loãng, bút cũ lông mềm đế quét những mảng màu nhạt mỏng. (câu lặc dụng ngạnh bút, trứ sắc dụng nhuyễn bút, công tế dụng tân bút, tả ý dụng thoái bút, giới họa dụng ngạnh bút, họa nhiễm dụng nhuyễn bút, câu cân dụng ngạnh tiêm bút, điểm đài dụng ngạnh thoái bút, bát mặc dụng đại nhuyễn bút, đạm sắc dụng nhuyễn thoái bút).

Kĩ thuật cầm bút cũng thay đổi khác nhau:

*   nếu chỉ viết chữ hoặc tỉa những đường nét nhỏ, mảnh, tỉ mỉ, cầm bút như sau: quản bút được giữ ở hai vị trí: ai giữa đốt thứ nhất ngón trỏ và đầu ngón cái, b/ giữa hai đốt đầu của ngón giữa và áp út.

*   nếu vị trí a cố định, thì vị trí b có thể di động tới lui với sự điều khiển của ngón giữa và ngón áp út.

*   nếu vị trí a di dộng theo sự điều khiển của cánh tay, thì vị trí b có hai chuyển động: một là của riêng b, một là theo di động của a.

Như vậy ngọn bút di chuyển trên mặt giấy lụa vô cùng linh hoạt. Nếu đầu ngọn bút di động trên một diện tích tương đối nhỏ, ta vận động cổ tay. Nếu trên diện tích lớn, ta vận động cậ cánh tay. Nếu chỉ để vẽ, cầm bút như sau: bút được giữ giữa đầu ngón cái và các đầu ngón còn lại. Lối cầm bút này rất tiện lợi vì đầu bút có thể di động theo mọi chiều hướng theo sự điều khiển của ngón tay, cổ tay và cánh tay, sự ảo diệu của lối cầm bút này là nó có thể biến thể. Lối cầm bút như vậy gần giống lối cầm thứ nhất nhưng hiệu quả cao hơn vì bút có thể đứng, nghiêng, nằm. Đặc biệt ở thế nằm, búp lông có hai chuyển động: hoặc theo chiều dọc thân bút hoặc tại hai bên. Nếu lông bút hơi khô mực hay khô màu, nó thể hiện được những vết rạn nứt như sớ gỗ, sớ đá, rất thích hợp để vẽ thân cây, núi và đá.

Ngoài ra, vị trí bàn tay trên cán bút cũng tạo hiệu quả khác nhau vì bàn tay gần búp lông và bàn tay ở cuối cán bút tạo những lực mạnh yếu khác nhau.

Trong cách vận dụng bút, người ta thường dùng những thuật ngữ như: ức (nhấn xuống), dương (nâng lên), đốn (dè dặt), tỏa (hạ xuống),

Trì (chậm trễ), tốc (nhanh), hoãn (thong thả), khẩn (gấp gáp), khinh (nhẹ tay), trọng (nặng, mạnh tay), lập (bút đứng thẳng), ngọa (bút nằm), sát (chà quét), điểm (chấm bút), nhiễm (tô màu)… Những hiệu quả tạo ra như: thoán (tạo vết rạn nứt), can (khô), thấp (ướt át), nồng (đậm đà), đạm (nhạt), nhung (mơn mởn như chồi non), trám (chấm giọt), thức (thực), hư (hư ảo), tiêm (nhọn), thốc (trơ trụi), tàng (ẩn kín), lộ (xuất hiện), thô (thô), tế (nhỏ, mảnh mai), nhuyễn (mềm), ngạnh (cứng), âm (tối), dương (sáng), hướng (tới), bối (sau lưng), hậu (dày), bạc (mỏng)…

Một khái niệm khác khi chấp bút đó là khí bút. Tô đông pha, một nhà thi họa và chính khách đời tống, có lần tán thưởng thư pháp của nhược quỳ: “chữ viết sơ như mưa hay, phát tán một cách tự nhiên mà không chút nào cẩu thả”. Rõ ràng chỉ khi nào người nghệ sĩ hoàn toàn đắm mình trong sự sáng tạo nghệ thuật thì mới đạt được hiệu quả này. Có thể gọi đây là hiện tượng cảm ứng. Người viết cảm được sự biến động của tự dạng trong tâm. Khi sự cảm nhận này hội đủ rồi thì người nghệ sĩ cầm bút viết ngay một cách đúng mực và thông suốt không đứt đoạn. Thần khí của chữ phóng phát từ tâm tưởng hiện lên mặt giấy. Nét bút trở nên sống động, linh hoạt và có thần khí. Ta có thể lấy ẩn dụ ngón tay chỉ trăng: người sơ khởi phải lệ thuộc vào văn tự, dẫu có công phu, nét bút có thể đẹp nhưng không có thần vì thần khí chỉ trụ ở ngón tay. Còn đối với người lão luyện, ngọn bút như một bộ phận thân thể nối liền với bàn tay. Trong con mắt người nghệ sĩ bậc thầy, không có “ngón tay”, chỉ có “mặt trăng” mà thôi. Nghĩa là không ngọn bút, chỉ có cái thần khí của chữ hiển hiện trên giấy, lụa.

Đại sư d.t. Suzuki có đề cập đến vấn đề này ở bài luận về zen và hội họa, trong quyểri zen buddhim: “một nét khác biệt khác của mặc họa (sumiye) chính là sự nỗ lực chụp bắt cái thần đang lúc nó vận động. Vạn vật luôn vận hành, không có gì tĩnh lặng trong bản chất của nó. Khi bạn nghĩ rằng bạn đang giữ yên được nó thì nó trượt khỏi tay bạn rồi. Bởi vì trong cái khoảnh khắc mà bạn giữ nó, nó không còn sự sống nữa. Nó đã chết. Nhưng mặc họa cố gắng bắt giữ sự vật cùng với sức sống của nó, một điều cơ hồ không thể đạt được. Vâng, sự nỗ lực của người nghệ sĩ muốn thể hiện một vật thể sống động trên trang giấy dường như bất khả thi, nhưng người nghệ sĩ có thể đạt được ý muốn này ỏ một giới hạn nào đó nếu mỗi nét bút đều phóng phát trựctiếp từ cái thần khí nội tại, không bị ngoại giới và tạp niệm ngăn trở. Trong trường hợp này ngọn bút chính là cánh tay vươn dài ra. Hơn thế nữa, nó chính là thần khí của nghệ, sĩ, thần khí này ẩn hiện trong từng nét bút trên mặt giấy. Khi hoàn tất, bức mặc họa chính là một thực thể sống, hoàn bị và không hề là bản sao của bất kì sự vật nào”.

Cây bút lông, một nét văn hóa truyền thống tiêu biểu của người trung quốc, suốt mấy ngàn năm phát triển từ một que gỗ thô sơ thành một cây bút lông xinh xắn ảo dụng, đã chứng tỏ óc thông minh sáng tạo của dân tộc này. Các nước đồng văn hóa với trung quốc như việt nam, triều tiên cũng từng sử dụng bút lông. Nhưng trong thời đại tân tiến hiện nay, có nhiều loại bút khác tiện lợi hơn đã thay thế bút lông. Cây bút lông chỉ còn đắc dụng trong lĩnh vực nghệ thuật như thư pháp và hội họa mà thôi.

Nguồn:

Giải thích về câu thơ trong tác phẩm Nhật ký trong tù của HCM

Bài làm

Hồ Chí Minh (1890-1969) là một bậc vĩ nhân, chỉ xét riêng về sự nghiệp sáng tác văn chương, Người xứng đáng là một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam. Ấy mà trong tập Nhật ký trong tù, Người lại viết:

“Ngâm thơ ta vốn không ham Nhưng vì trong ngục biết làm chi dây Ngày dài ngâm ngợi cho khuây,

Vừa ngâm, vừa đợi đến ngày tự do”.

Hiện tượng trên mâu thuẫn hay hợp lý?

Thời niên thiếu, Bác Hồ*rất tâm đắc câu thơ cổ:

“Lập thân tối hạ thị văn chương”

(Lập thăn bằng văn chương là thấp kém nhất)

Như vậy, Bác không có ý định trở thành nhà văn, nhà tho’ hay chọn sự nghiệp sáng tác văn chương để làm đường tiến thân. Tháng 1-1946, nhân dịp nói chuyện với một số nhà báo, Hồ Chí Minh đã bày tỏ lòng mình: “Cả đời tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cam ăn, áo mặc, ai củng được học hành”. Cho nên Bác bảo: “Ngâm thơ ta vốn không ham” cũng là điều dễ hiểu.

Thế nhưng, cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác đã đẩy Bác đến với thi ca, truyện, kí, thậm chí có cả lĩnh vực sáng tác kịch nữa! Năm 1911, Bác bước vào độ tuổi 21 – độ tuổi thanh niên tràn đầy nhựa sống. Đau lòng trước cảnh đất nước Việt Nam sống kiếp nô lệ, phụ thuộc dưới bàn tay đầy uy quyền của bọn thực dân Pháp, Bác quyết định tạm biệt đất nước Việt Nam thân yêu ra đi tìm đường cứu nước tại bến Nhà Rồng với hai bàn tay trắng. Bác làm đủ thứ nghề để sinh sống, kể cả rửa chén bát. Trong thời gian hoạt động cách mạng tại Anh, Pháp, Liên Xô (cũ),…. Bác nhận ra rằng văn chương cũng là một loại vũ khí sắc bén để đấu tranh chông lại kẻ thù. Dù không cố ý nhưng Hồ Chí Minh lại tro’ thành người nghệ sĩ thiên tài. Trên báo chí bắt đầu xuất hiện thơ văn yêu nước của Bác.

Từ ngày 29-08-1942 đến 10-09-1943, Người bị bọn Tưởng Giới Thạch vô có’ bắt giam ỏ’ nhà tù Quốc dân Đảng tại Quảng Tây, Trung Quốc. Trong những ngày bị đày đoạ, giam hãm, Người viết tập Nhật ký trong tù với 133 bài. Trong đó có nhiều bài bất tử với thời gian. Nhiều nhà nghiên cứu văn học bậc thầy cho rằng, nếu mang những tuyệt tác ấy của Người đặt lẫn vào thơ Đường, thơ Tống thì độc giả

khó nhận biết đâu là tho’ Hồ Chí Minh, đâu là thơ Đường, thơ Tống. Sống giữa bốn bức tường giam chật hẹp tối tăm, hôi hám, Người không có việc gì đế làm. Sẵn có năng khiếu văn chương từ thuở bé, Người làm thơ để:

“Ngày dài ngâm ngợi cho khuây,

Vừa ngâm, vừa đợi đến ngày tự do”.

Có thể’ nói, những bài thơ sáng tác trong ngục tù như những “phép thắng lợi tinh thần” của Người dành cho chính Người.

Mặt khác, tại thời điềm ấy, tình hình cách mạng trong nước đang thôi thúc trái tim yêu nước của Người. Đất nước Việt Nam rất cần Người cũng như vai trò lãnh đạo cách mạng của Người. Người “vừa ngâm, vừa đợi đến ngày tự do” mà xót xa, tê tái cõi lòng:

“Xót mình giam hãm trong tù ngục Chưa dược xông pha giữa trận tiền”.

Lúc nào Người cũng khát khao thoát khỏi tội tù vô lý:

“Trời xanh cố ý hãm anh hùng,

Cùm xích tiêu ma tám tháng ròng.

Tấc bóng nghìn vàng, đau xót thực,

Bao giờ thoát khỏi chốn lao lung’?”.

Chính vì những ngày ở tù, Người làm thơ, nên tinh thần Người lúc nào cũng vẫn ung dung, lạc quan và tâm hồn của Người luôn giữ được nét tinh khiết như đoá hoa sen trong sạch giữa bùn nhơ.

Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn là một con người say mê cảnh đẹp thiên nhiên nên có những khi thi hứng quá cao độ, Người dễ dàng xuất khẩu thành thơ. Bài Ngắm trăng, Giải đi sớm trong tập Nhật ký trong tù hay bài Tin thắng trận sáng tác ở Việt Bắc 1948 là những điển hình cho nguồn thi hứng ấy.

Tóm lại, Hồ Chí Minh nói: “ngâm thơ ta vốn không ham” nhưng Người lại trở thành một nhà thơ lớn là điều tưởng chừng như mâu thuẫn nhưng lại rất hợp lý. Tính mâu thuẫn thế hiện ở chỗ Bác không muốn theo nghiệp văn. Tính hợp lý ở chỗ Bác là người có năng khiếu văn chương, có cái tâm trong sáng, yêu cái đẹp, yêu nước, thương dân. Do đó, Người sáng tác thi ca là đế cứu nước, cứu dân thoát khỏi bàn tay độc ác của bọn cướp nước và bán nước.

 

Hồ Chí Minh (1890-1969) là một bậc vĩ nhân, chỉ xét riêng về sự nghiệp sáng tác văn chương, Người xứng đáng là một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam. Ấy mà trong tập Nhật ký trong tù, Người lại viết:

10A

“Ngâm thơ ta vốn không ham Nhưng vì trong ngục biết làm chi dây Ngày dài ngâm ngợi cho khuây,

Vừa ngâm, vừa đợi đến ngày tự do”.

Hiện tượng trên mâu thuẫn hay hợp lý?

Thời niên thiếu, Bác Hồ*rất tâm đắc câu thơ cổ:

“Lập thân tối hạ thị văn chương”

(Lập thăn bằng văn chương là thấp kém nhất)

Như vậy, Bác không có ý định trở thành nhà văn, nhà tho’ hay chọn sự nghiệp sáng tác văn chương để làm đường tiến thân. Tháng 1-1946, nhân dịp nói chuyện với một số nhà báo, Hồ Chí Minh đã bày tỏ lòng mình: “Cả đời tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cam ăn, áo mặc, ai củng được học hành”. Cho nên Bác bảo: “Ngâm thơ ta vốn không ham” cũng là điều dễ hiểu.

Thế nhưng, cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác đã đẩy Bác đến với thi ca, truyện, kí, thậm chí có cả lĩnh vực sáng tác kịch nữa! Năm 1911, Bác bước vào độ tuổi 21 – độ tuổi thanh niên tràn đầy nhựa sống. Đau lòng trước cảnh đất nước Việt Nam sống kiếp nô lệ, phụ thuộc dưới bàn tay đầy uy quyền của bọn thực dân Pháp, Bác quyết định tạm biệt đất nước Việt Nam thân yêu ra đi tìm đường cứu nước tại bến Nhà Rồng với hai bàn tay trắng. Bác làm đủ thứ nghề để sinh sống, kể cả rửa chén bát. Trong thời gian hoạt động cách mạng tại Anh, Pháp, Liên Xô (cũ),…. Bác nhận ra rằng văn chương cũng là một loại vũ khí sắc bén để đấu tranh chông lại kẻ thù. Dù không cố ý nhưng Hồ Chí Minh lại tro’ thành người nghệ sĩ thiên tài. Trên báo chí bắt đầu xuất hiện thơ văn yêu nước của Bác.

Từ ngày 29-08-1942 đến 10-09-1943, Người bị bọn Tưởng Giới Thạch vô có’ bắt giam ỏ’ nhà tù Quốc dân Đảng tại Quảng Tây, Trung Quốc. Trong những ngày bị đày đoạ, giam hãm, Người viết tập Nhật ký trong tù với 133 bài. Trong đó có nhiều bài bất tử với thời gian. Nhiều nhà nghiên cứu văn học bậc thầy cho rằng, nếu mang những tuyệt tác ấy của Người đặt lẫn vào thơ Đường, thơ Tống thì độc giả

khó nhận biết đâu là tho’ Hồ Chí Minh, đâu là thơ Đường, thơ Tống. Sống giữa bốn bức tường giam chật hẹp tối tăm, hôi hám, Người không có việc gì đế làm. Sẵn có năng khiếu văn chương từ thuở bé, Người làm thơ để:

“Ngày dài ngâm ngợi cho khuây,

Vừa ngâm, vừa đợi đến ngày tự do”.

Có thể’ nói, những bài thơ sáng tác trong ngục tù như những “phép thắng lợi tinh thần” của Người dành cho chính Người.

Mặt khác, tại thời điềm ấy, tình hình cách mạng trong nước đang thôi thúc trái tim yêu nước của Người. Đất nước Việt Nam rất cần Người cũng như vai trò lãnh đạo cách mạng của Người. Người “vừa ngâm, vừa đợi đến ngày tự do” mà xót xa, tê tái cõi lòng:

“Xót mình giam hãm trong tù ngục Chưa dược xông pha giữa trận tiền”.

Lúc nào Người cũng khát khao thoát khỏi tội tù vô lý:

“Trời xanh cố ý hãm anh hùng,

Cùm xích tiêu ma tám tháng ròng.

Tấc bóng nghìn vàng, đau xót thực,

Bao giờ thoát khỏi chốn lao lung’?”.

Chính vì những ngày ở tù, Người làm thơ, nên tinh thần Người lúc nào cũng vẫn ung dung, lạc quan và tâm hồn của Người luôn giữ được nét tinh khiết như đoá hoa sen trong sạch giữa bùn nhơ.

Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn là một con người say mê cảnh đẹp thiên nhiên nên có những khi thi hứng quá cao độ, Người dễ dàng xuất khẩu thành thơ. Bài Ngắm trăng, Giải đi sớm trong tập Nhật ký trong tù hay bài Tin thắng trận sáng tác ở Việt Bắc 1948 là những điển hình cho nguồn thi hứng ấy.

Tóm lại, Hồ Chí Minh nói: “ngâm thơ ta vốn không ham” nhưng Người lại trở thành một nhà thơ lớn là điều tưởng chừng như mâu thuẫn nhưng lại rất hợp lý. Tính mâu thuẫn thế hiện ở chỗ Bác không muốn theo nghiệp văn. Tính hợp lý ở chỗ Bác là người có năng khiếu văn chương, có cái tâm trong sáng, yêu cái đẹp, yêu nước, thương dân. Do đó, Người sáng tác thi ca là đế cứu nước, cứu dân thoát khỏi bàn tay độc ác của bọn cướp nước và bán nước.

Nguồn:

Thuyết minh về tác phẩm Số Đỏ dựa vào nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng

BÀI LÀM

Lịch sử văn học Việt Nam chưa có một.tiểu thuyết nào gây được một phản ứng xã hội kịch liệt như tiểu thyết Số đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng. Số đỏ xuất hiện đột ngột giữa làng văn như một tiếng sét xé trời mà thanh âm của nó chắc chắn sẽ còn vang vọng mãi. Xuân Tóc Đỏ (nhân vật chính trong tác phẩm) trở thành một nhân vật điển hình trong số rất ít các nhân vật điển hình của văn học Việt Nam. Với Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã trở thành đại diện xuất sắc bậc nhất của dòng văn học hiện thực phê phán thời kì 1930 – 1945 ở Việt Nam. Thành công của tác phẩm trước hết là bởi một nghệ thuật trào phúng sắc bén bậc thầy của nhà văn mà qua đó xã hội Việt Nam đương thời hiện lên với dầy đủ những tàn tật, dị dạng, những tiêu cực, tệ nạn. Chương cuối cùng của tác phẩm Xuân Tóc Đỏ cứu quốc tuy chưa là chương hay nhất của tác phẩm nhưng lại là chương điển hình nhất cho hiện thực xã hội lố lăng, bịp bợm đương thời.

Chương truyện là bước phát triển cao nhất cho cái nhà văn gọi là “sô đỏ” của thằng Xuân. Từ một tên ma cà bông hạn bét ở đầu tác phẩm giờ đây chóng vánh trở thành một vĩ nhân đầy hào quang chói lọi. Một sự thăng tiến đến chóng mặt, tưởng như đầy rẫy sự vô lí nhưng đặt trong hoàn cảnh xã hội lúc ấy lại có thể xảy ra được. Suy cho cùng, cái “Sô đỏ” của thằng Xuân không chỉ hoàn toàn là cái may do khách quan (mà cụ thể là cái xã hội thượng lưu đểu giả đương thời) đưa lại, mà nó bắt nguồn từ bản chất mất dạy, vô giáo dục, vô văn hóa, xỏ lá đểu cáng, háo danh háo sắc của y. Nói cách khác cái bản chất của thằng Xuân chính là điều kiện cần và hoàn cảnh xã hội là điều kiện đủ để cái “sô đỏ” của y có thổ phát triển rực rỡ huy hoàng, đạt đến giá trị cực đại của nó. Trong chương truyện cuối cùng của tác phẩm, Xuân Tóc Đỏ đã đáp ứng một cách xuât sắc đầy đủ những yêu cầu mà xã hội đương thời đặt ra đê bước tới danh hiệu cao quý “vĩ nhân”, “anh hùng cứu quốc”. Có thể nói Xuân Tóc Đỏ là kết tinh, là điểm hội tụ tập trung của mọi thói tật, mọi tệ nạn xã hội. Nhưng mỉa mai thay, chính sự hội tụ bỉ ối ấy lại đưa nó đến đỉnh cao danh vọng. Xuân Tóc Đỏ là con người của tệ nạn nhưng cũng lại là con người của hào quang. Suy cho cùng cái chất trào lộng của ngòi bút Vũ Trọng Phụng phát khởi từ đây, từ một nghịch lí mà hợp lí, từ một sự phi lí mà có thật. Đó là cả một sự đối chọi đầy chua chát mà chì có ngòi bút hiện thực của Vũ Trọng Phụng mới vạch ra trần trụi. Cứ như những tình tiết xảy ra trong tác phẩm, đặc biệt là ở chương cuối, người đời có thể rút ra một quy luật tiến thân lạ lùng nhất trong đời, chỉ có thể xảy ra ở cái xã hội thời ấy mà thôi, quy luật ấy là càng bịp bợm. Càng vô văn hóa, càng xổ lá ba que, càng dâm loạn thì cơ hội tiến thân càng rộng mở.

Nhìn lại con đường tiến thân của Xuân, ta thấy rồ hơn điều đó. Dầu tiên y chỉ là một đứa trẻ mồ côi và mất dạy, hư hỏng, rồi một tên ma cà bông hạng bét, cơm thừa canh cặn, là chạy cờ rạp hát, bán thuôc tây đểu trên tàu xe, tiếp đèn là thằng nhặt banh trên sân quần vợt. Sau một “tai nạn nghề nghiệp” bệnh hoạn và trở nên thất nghiệp, có ai ngờ rằng cái số đỏ của y bắt đầu “liên tục phát triển” kê từ đây. Do chi tiết biêu hiện tính dâm đãng của y (cụ thể là nhìn trộm phụ nữ thay quần áo – một thói quen cố hữu, một đặc tính xấu xa ngay từ nhỏ của y) mà y lọt vào “mắt xanh” của mụ me Tây bệnh hoạn, rửng mỡ có cái tên là bà Phó Đoan. Từ đó con đường công danh của y phất lên như diều gặp gió bởi y đã bước vào vòng quay của xã hội thượng lưu. Đầu tiên người ta gọi y là sinh viên trường thuốc vì đã có công giết chết một lão già trăm ngàn lần đáng chết. Tiếp sau đó người ta còn gán cho y những cái tên nghe thật sướng tai nào là nhà cải cách xã hội, nào là giáo sư quần vợt và hàng chục vị hàm cao cấp khác trước khi đến đích cuối cùng là một vĩ nhân,

một anh hùng cứu quốc. Một con người với tài năng hiếm có và một cách vô ý thức, từ chỗ là công cụ cho người khác, cho xã hội lợi dụng dần dần với bước của “chó sói gửi thân”, y đã lợi dụng trở lại, dùng xã hội làm công cụ tiến thân một cách đầy toan tính.

Có thể xem mỗi chương trong Số đỏ là một màn sân khâu mà ở đó các xung đột diễn ra đầy kịch tính. Nếu như ở các chương trước chỉ là những màn kịch vi mô với các mâu thuẫn diễn ra trong gia đình cụ cốHồng, một tập hợp các thành viên đầy khập khiễng và thằng Xuân thì chương cuối này là một màn kịch mang tầm vĩ mô, một màn kịch “bách khoa toàn thư” về xã hội Việt Nam đương thời, một màn đại hài kịch tạp-phê-lù huy động tôi đa mọi nhân vật vào các vai diễn. Đó là từ vua ta tới vua Xiêm, từ quan thông sứ tới quan toàn quyền, từ các ông Tây bà đầm cho tới các thượng lưu trí thức, từ cái con mẹ me Tây góa phụ cho chí mấy ông thầy chùa, từ các ông thầy tướng số tới các chủ khách sạn, từ các ông chồng bị cắm sừng cho tới các cô gái tân thời quyết giữ chữ trinh tiết với hai người trở lên… Tất cả chừng ấy “nhân vật” lộn xộn, bừa bãi đều được lôi sềnh sệch vào một màn hí trường hài hước nhốn nháo, lố bịch, kệch cỡm, tạp nham hết sức. Kính thưa các loại phế phẩm, kính thưa các loại phụ phẩm phế liệu, kính thưa các hạng người… đều được Vũ Trọng Phụng nhồi nhét vào màn kịch trào phúng cỡ bự của mình một cách xô bồ, tự nhiên và sinh động đến lạ thường. Cái xã hội tật Nguyễn ấy chưa bao giờ mang tính quái thai đến thế, chưa bao giờ động cỡn đến thế. Dưới ngòi bút trào lộng sắc bén, Vũ Trọng Phụng đã vạch trần tất cả những tệ nạn bản chất nhất của cái xã hội bịp bợm “chó đểu” ấy. Nhà văn đã phá vở tung tóe tất cả những tỉ lệ hiện thực, làm lộn tùng phèo hết thảy những giá trị vốn có để gây nên chất trào lộng cho tác phẩm. Nó thê hiện ở một lôi hành văn đặc biệt, khi nói về cái hình thức bên ngoài, cái mã cái vỏ thì thậm xưng, tăng lên đến mây xanh, ngay sau đó nhà văn lại ném phịch nó xuống mặt đất bằng chính cái bản chất của nó. Cái hình thức bôn ngoài thì lớn lao, to tát, hùng hồn nhưng cái ruột thì lại thảm hại như một cách tiêu điều, đến tội nghiệp. Cuộc tiếp kiến lịch sử giữa vua ta và vua Xiêm được khoa trương với những từ ngữ đại hoa mĩ: nào là “Nước Việt Nam hồi xuân”, nào là “Một chỗ rẽ trong lịch sử”, nào là “Việt – Xiêm thân thiện”, “hai vua tại một nước”, nào là “một cái hân hạnh đặc biệt cho bình dân Việt Nam: cả vua Xiêm nhân dịp thân hành sang chơi với ta” nào là “hai nước Xiêm – Việt từ nay bắt tay nhau trên dường tiến bộ”. Tưởng là vua ta với vua Xiêm cùng nhau hội đàm, cùng nhau luận bàn việc nước hóa ra lại đi lông bông để cho dân chúng Hà Thành có dịp ngồi lê đối mách. Cuối cùng vì tinh thần thế thao chân chính, cả hai ngài cùng đến xem một trận đấu quần vợt. Vũ Trọng Phụng đã khéo léo đưa chuyện, dần chuyện để người đọc thấy được cái hệ trọng hàng mà của hai vị “thiên tử”. Chính sự khập khiễng ấy đã lập tức gợi lên cái chất hài hước cho câu chuyện.

Việc Xuân Tóc Đỏ, một tay vợt nghiệp dư, được mời ra tranh tài với tài

tử Luang Prabahot, quán quân quần vợt Xiêm La, không chỉ là một sự chỉ định tình cờ mà là kết quả của một sự xếp đặt, của một mưu ma chước qui sặc sụa chất vị kỉ, điển hình cho cái thói thắng nhân ố kỉ của Xuân Tóc Đỏ. Y đã tương kế tựu kế để làm hại hai nhà quán quân Hải và Thụ ở bót để hãnh diện tiến ra sân theo lời mời cùa đích vị Tổng cục trưởng tống cục thể thao Bắc Kì. Chính vì thế, Xuân Tóc Đỏ và ông bầu Văn Minh của mình trở thành đại diện Hà Thành để giữ cái danh dự cho Tố quốc.

Điều hài hước nữa là từ vua Xiêm và vua ta cho chí các quan Pháp đi xem thể thao nhưng lại thế hiện những hành vi, thái độ phi the thao đến nực cười. Vua Xiêm lại quá máu me ăn thua, sần sàng đem vận mệnh đất nước ra để đổi lấy chuyện thắng thua trong một quán quần vợt vô bổ. Trong khi đó vua ta thì chỉ cốt, đánh lấy… thua. Và chí thị ấy đã được ban tới tai Xuân Tóc Đỏ và kết cục ai cũng rõ là chiến thắng thuộc về Luang Prabahot, quán quân quần vợt Xiêm La và đức vua Xiêm S.M.Prafadophick. Huống nổi, sự hi sinh cao cả của bậc đại nhân, đại tài lại không được quần chúng thấu hiểu. Xuân Tóc Đỏ và Văn Minh bị lâm vào một nỗi oan Thị Mầu. Quả thua ngỞ ngẩn và khó hiểu của Xuân đã làm khán giả, những người sẵn sàng tự tử bằng cách hút thuốc phiện không có dâm thanh vì không mua được vé vào cửa, nổi cơn thịnh nộ. Họ hò hét “Quốc sỉ! về nhà bò! Di về nhà bò đi!” rồi “Abas Xuân! Abas Xuân! Dcsexplications!” (Đả đảo Xuân! Đả đảo Xuân! Hãy giải thích). Đáng thương thay, tội nghiệp thay cho Xuân Tóc Đỏ, oan ức thay cho y vì quần chúng “trẻ người non dạ”, “nông nổi” không thâu tỏ nổi tấc lòng trung hậu cao thượng của y.

Tất, cả những sự hiểu nhầm ấy đều tan biến bởi một bài thuyết giáo “cố lai hi” của y. Hãy xem những lời lồ trịnh thượng và nực cười đen nhường nào: “Hỡi quần chúng! Mi không hiểu gì, mi oán ta, ta vẫn quý mi mặc dù mi chẳng hiểu lòng ta!”. Trời đẩt hỡi cách xưng hô của bậc vĩ nhân mới độc đáo làm sao, độc đáo một cách tuyệt đối khiến người đọc không còn gì để bình thêm nữa, không có gì chê bai, khen tụng nữa. Nhưng chưa hết, để kết thúc bài hùng biện của mình, Xuân Tóc Đỏ dõng dạc: “Thôi giải tán đi, và cứ việc an cư lập nghiệp trong hòa bình và trật tự! Ta không dám tự phụ là anh hùng cứu quốc nhưng ta đã tránh cho mi cái nạn chiến tranh rồi. Hòa Bình vạn tuế, Hội Quốc Liên vạn tuế!”. Khỏi phải bàn những lời lẽ đã đưa hắn lên vị trí vĩ nhân, anh hùng cứu quốc, là thần tượng của “mi”, như cách gọi của bậc vĩ nhân Tóc Đỏ ấy. Bài thuyết giáo của y đã khai sáng đầu óc đám quần chúng tôi như hũ nút. Thê rồi thiên hạ sốt sắng hô to: “Xuân Tóc Đỏ vạn tuế, sự đại bại vạn tuế”. Sau đó là những lời chúc tụng lu bù, những vinh quang ập đến với Xuân một cách đột ngột. Chính phủ Pháp và An Nam tặng huân chương danh giá, được mời làm cố vấn báo Gõ mõ, là hội viên hội Khai trí tiến đức, đón mừng lời chúc tụng của cảnh sát giới mà cụ thể là Min Đơ, Min Toa, của các chủ khách sạn mà đại diện là Victor Ban, rồi bà Typn thay mặc cho chị em phụ nữ và đặc biệt là ông Phán thay mặc các

Qgười chồng mọc sừng. Tưởng như đã hết thì cuối cùng còn “nẩy nòi” ra ông thầy tướng sô chao ôi là vinh quang nhọc nhằn.

Buồn cười hơn cả là hình ảnh Xuân Tóc Đỏ hứa hẹn xin cho bà Phó Đoan một cái bảng “tiết hạnh khả phong”. Trời ơi, một chi tiết đắc địa đến lạnh người. Một con me Tây dâm loạn, lẳng lơ đỏng đảnh và rửng mỡ, đối lập hoàn toàn với bôn chữ cao quý ấy. Những chi tiết như câu gắt “Nước mẹ gì” của thằng vĩ nhân Xuân lại được khen rối rít và hứa hẹn đưa vào từ điển Đại Việt. Đặc biệt vừa nghe được chính phủ tặng bội tinh, cụ Hồng đã hô to “Bay dân, bày hương án” một gia đình gia phong nề nếp đến thế là cùng. Cách xưng hô “toa”, “moa” của bố con nhà Văn Minh cũng “văn minh” và nực cười đến chừng nào. Việc lẩy ra những sự tương phản, những điều lố bịch chính là để ta thấy rõ hơn cái bản chất băng hoại, suy đồi, sự phá sản hoàn toàn của các giá trị đạo đức truyền thòng. Chính lôi viết tương phán ấy là một nét trong nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng.

Những lời bình, những lời thể hiện trực tiếp thái độ của nhà văn song hành với lời kể của câu chuyện. Chẳng hạn như một bậc vĩ nhân nhũn nhặn, nó giơ quả dấm chào loài người, hay với tài hùng biện của một người đã thổi loa cho hiệu thuốc, với cái tự nhiên của một anh lính chạy cờ rạp hát lại được ông bầu Văn Minh đĩa kèn, Xuân Tóc Đỏ đã chinh phục quần chúng như một nhà chính trị đại tài. Thường thì nhà văn tả chân, nhà văn hiện thực tối kị việc đưa ra những lời nhận xét. Nhưng với Vũ Trọng Phụng thì khác, ông là một nhà văn châm biêm đả kích, là một nhà văn hiện thực đi đối với trào lộng phê phán. Những lời nhận xót của ông vừa mang đâm chất cười dân gian, vừa “humour” một cách trí tuệ, lại vừa gay gắt, chua chát. Đấy cũng là một Đặc điểm trong nghệ thuật trào phúng của ông, dưới ngòi bút đó, tất cả đều hiện nguyên hình với bộ mặt thật bỉ ổi. Với những phẩm chất như vậy, ông xứng đáng trở thành nhà văn hiện thực lớn và văn chương ông đúng là “sự thực ở đời” như ông từng quan niệm.

ĐỀ: Hạnh phúc cua một tang gia (’Chương XV tác phẩm số dó của Vũ Trọng Phụng) là một màn kịch hài đặc sắc.

Em hãy phân tích dể làm sáng tỏ nhận xét trên._______________________

BÀI LÀM

Số đỏ là cuốn tiểu thuyết trào phúng được viết theo khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa. Tác phẩm đã phát huy cao độ tài năng châm biếm, đả kích sắc sảo cua Vũ Trọng Phụng. Thói căm ghét của ông đối với xã hội thối nát không còn là một lời chửi rủa nửa mà nổ ra thành một trận cười sáng khoái, có sức công phá mạnh mẽ tung vào giữa những cái lố bịch, kệch cỡm, nghịch lì của xã hội đương thời. Dưới ngòi bút kì tài của Vũ Trọng Phụng, chương nào đoạn nào cũng thú vị, hấp dẫn như một màn hài kịch trọn vẹn, Đặc biệt và điển hình hơn cả là chương Hạnh phúc của một tang gia.

Với chương này của tác phẩm Số đỏ, khuynh hướng hiện thực trào phúng thể hiện trong văn chương của Vũ Trọng Phụng có thể nói là đạt đến mức hoàn mĩ như chính nhận xét của Vũ Trọng Phụng nhằm đáp lại lời công kích của Nhất Linh năm 1937 ‘‘khi dùng một chữ bẩn thiu tôi chẳng thấy khoái trá như khi các ông tìm dược một kiểu áo phụ nữ mới mẻ, những lúc ấy, tôi chỉ thương hại cái nhân loại ô uế bẩn thỉu, 11Ó bắt tôi phải viết như thế, và nó bắt các ông phải chạy xa sự thực bằng những danh từ diêu trá của văn chương… Đó, thưa các ông, cái chỗ bất đồng ý kiến giữa chúng ta! Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiếu thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết dó là sự thực ở đời…”

Theo tinh thần và tâm huyết đó, ngay trong đầu đề của chương truyện, tác giả đã gởi gắm, tạo ra một tiếng cười châm biếm về cái nghịch lí lạ lùng của nhân tình thế thái. Một gia đình có tang, ở đây là đại tang thì tâm trạng của những người trong gia đình ắt hẳn phải là thương tiếc, sầu não. Đằng này, họ lại hạnh phúc, “Hạnh phúc của một tang gia”! mới nghe có vẻ ngược đời nhưng suy ngẫm kĩ, đọc hết toàn chương, đặt trong hoàn cảnh cụ thế của gia đình này, thì điều hạnh phúc ấy lại hoàn toàn hợp lí, chân thực. Vũ Trọng Phụng sắc sảo trong tiêng cười châm biếm là ở chỗ ấy. Nghịch lí mà hợp lí. Tưởng cường điệu, phóng đại mà lại rất chân thực, chân thực đến cụ thể.

Thật vậy, ở đám tang cụ tổ, gia dinh này ai cũng vui như Tết. Mỗi người, tùy theo quan hệ thân thuộc, sẽ có những hạnh phúc, sự thỏa mãn khác nhau. Ai ai cũng thấy đây là dịp may để họ có thể đạt một nguyện vọng, một ý đồ nào đó.

Cậi chết của cụ tổ, như vậy, dưới mắt của Vũ Trọng Phụng chính là một tình huông điển hình giúp nhà văn xây dựng những tính cách đặc sắc. Qua tính cách này của những người có quan hệ ruột rà với cụ tổ, Vũ Trọng Phụng sẽ có dịp bộc lộ, vạch rõ chân tướng nhố nhăng, lố bịch, thiếu tình người của những hạng người mang danh là thượng lưu, quý phái, văn minh tân thời nhưng thực chất là những cặn bã, quái thai của cái xã hội dở Tây dở ta buổi ấy.

Cái chết của cụ chẳng làm cháu con nào thiếc thương, bới đã từ lâu. họ mong cụ chết cho nhanh để chia gia tài. Chính vì thủ’, cái chết của cụ sẽ đem đến cho họ một niềm vui to lớn, không che giấu hạnh phúc. Ta hãy nghe Vũ Trọng Phụng trần tình: “Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm… “Bọn con cháu vô tâm ai cũng vui sướng thỏa thích …” Người ta tưng bừng, vui vẻ di đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma,… tang gia ai cũng vui vẻ cả”…

Trước hết là cậu tú Tân, cháu nội cụ tổ rất hào hứng, phấn khới vì cậu có dịp trổ tài và sử dụng “mấy cái máy ảnh mà mãi cậu không dược dùng đến”. Vợ Văn Minh (cháu dâu) mừng rỡ vì sẽ “được mặc đồ xô gai tân thời”, và đội “cái mũ mẩn trắng viền đen”… để quảng cáo cho một kiểu đồ tang tân thời!

Người con trai của cụ tố’ sung sướng vì một lí do khác lớn hơn. Cụ cố Hồng “mơ màng đến cái lúc cụ mặc dồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu” để cho thiên hạ bình phẩm, ngợi khen: “úi kìa, con giai nhớn đã già dến thế kia kìa!”

Văn Minh (cháu nội) đã từng du học bôn Tây bao năm, về nước không có lấy một mảnh bằng, chỉ nhăm nhăm nghĩ tới chuyện chia gia tài thì thích thú ra mặt vì “cái chúc thư kia sẽ vào thời kì thực hành chứ không còn là lí thuyết viển vông nữa”. Riêng người cháu rể (Phán mọc sừng) thì khấp khởi, sướng rơn trong bụng vì đã được bố vợ “nói nhỏ vào tai rằng sẽ chia cho con gái và rể thêm một số tiền là vài nghìn đồng. Chính ông ta củng không ngờ rằng giả trị đối sừng hươu vô hỉnh trên đầu ông ta mà lại to đến như thế”. Không khí của đám ma là không khí của một ngày hội. Đây cũng chính là mâu thuẫn trào phúng gây cười ra nước mắt, xuyên suốt hoạt cảnh, tình huông.

Đám ma cũng là dịp hiếm có để trưng bày và quảng cáo các mốt quần áo âu hóa mới nhất của tiệm may vợ chồng Văn Minh – sản phẩm độc đáo của nhà thiết kê mĩ thuật Typn. Đó cũng là dịp đổ cô Tuyết với bộ y phục “Ngây thơ” hỞ hang với nét mặt cố tạo một “vẻ buồn lãng mạn rất dứng mốt một nhà có dám”, khiên cho bao nhiêu vị khách đàn ông “khi trông thấy làn da tráng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực Tuyết” phải xúc động còn hơn nghe tiêng kèn đám ma.

Điều này còn lây lan sang cả những người không phải là thân thích, ruột rà. Những kẻ đi dự đám tang bao gồm đám bạn bò, quan khách. Họ đèn đám ma với đủ mục đích. Họ khoe mề đay, huân chương, những bộ ria mép. Nếu là đàn bà thì đó là dịp để họ đua nhau bình phẩm về người khác. Thật mỉa mai, họ làm tất thảy điều đó “bằng những vẻ mặt buồn rầu của những người di dưa ma” (!)

Người dân hai bên phố đồ ra xem đám ma như một sự lạ. Đám ma to đến nỗi những người trong tang gia cảm thấy hết sức “sung sướng” và hàng phô “nhõn nháo lên khen dám ma to”. Lúc bây giờ, nhà văn lạnh lùng bình luận:

“Dám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái dầu…!”. Thật là mỉa mai. chua xót.

Song song với miêu tả, ngòi bút sắc sảo, nghiêm lạnh của nhà văn trưng lên liên tiếp những chân dung, những tình huông. Đó là những bức biêm hoạ bằng ngôn ngữ giúp người đọc nhận ra chân tướng xã hội, chán tướng những người được mệnh danh là thượng lưu, quý tộc. Ông giúp người đọc nhận ra rằng, đám ma to tát kia quả là có đủ cả nhưng chi thiêu duy nhất một điều, và điều này lại là điều quan trọng nhất, đó là tình người. Thông điệp nhân văn của tác phẩm trở nên rõ ràng sau tiếng cười trào lộng. Nếu con người thực sự thiếu tình người, lòng thương tiếc chân thành với người đã khuất thì đám ma dù lòe loẹt đến mức nào đi

nữa, to tát đến mức nào đi nữa, đó cũng chỉ là hình thức, giả dôi. Rõ ràng, thông điệp ấy không chỉ nhắm, vào thời đại của Vũ Trọng Phụng, tính thời sự của bức thông điệp này có ý nghĩa với tất cả chúng ta!

Mấy chi tiết đặc tả cảnh hạ huyệt càng mỉa mai, trào phúng. Nó được dàn dựng bởi một bàn tay đạo diễn non nớt, lộ liễu. Cậu tú Tân bắt từng người phải chống gậy, gục đầu, cong lưng lau mắt… đổ cậu chụp ảnh. Trong khi, bạn hữu của cậu “rầm rộ nhảy lên những ngôi mả khác mà chụp để cho ảnh khỏi giông nhau”.

Chất bi hài của cảnh được đặc tả làm bật lên tiêng cười… ra nước mắt. Rồi tiếng khóc đặc biệt, như một điệp khúc của ông Phán mọc sừng: “ông Phán oặt người di, khóc mãi không thôi”. Ỏng khóc: “Hứt!… Hứtỉ… ỉ lứt!…” Nêu có thố’ nói rằng, chi tiết làm nôn nhà văn lớn thì ở đây, chi tiết được đặc tả của Vũ Trọng Phụng đã đạt đến mức hoàn thiện.

Qua chương Hạnh phúc của một tang gia, Vũ Trọng Phụng đã thể hiện tài năng kế chuyện bậc thầy của một nhà văn chàm biêm trào phúng. Bút pháp của ông giỏi ở chỗ nêu nghịch lí mà hợp lí trong hoàn cảnh, mẫu người cụ thế. Phóng đại, hư cấu mà như thật. Ông chú ý đến sự đối kháng giữa hiện tượng và bán chất, sự thực và giả dối. Ổng khai thác triệt để, đầy góc cạnh nhằm tạo ra những tràng cười có ý nghĩa phô phán sâu sắc. Ông vạch rõ chân tướng của một lớp người, cảnh báo về sự băng hoại xã hội nếu xã hội vẫn tồn tại hạng người ấy. Bức thông điệp này lại được thể hiện bằng năng lực trào phúng sắc sảo của ông khiến cho giá trị của Số đỏ càng trở nên bền vững.

Có thể nói rằng, Sô đỏ là một bức biếm họa đầy chi tiết của một thời và một đời

Nguồn:

Thuyết minh về Cây chuối trong đời sống người Việt Nam

Chuối có tới năm bảy loại, nào là chuôi hương, chuôi ngự, chuôi sứ, chuối mường, chuối tiêu… Mỗi loại chuôi đều có hương vị thơm ngon riêng, tạo ra nét đặc biệt không thể lẫn với những loại khác. Thế nhưng các loại chuôi đều mang vẻ bên ngoài gicíng nhau. Thân cây tròn, thấp, trơn bóng, to bằng cả cái cột đình. Lá cây xanh non, dài, to bản và các gân đối xứng nhau. Thế nhưng lá chuôi khô lại có màu nâu, giòn và cứng. Bắp chuôi có màu đỏ, thuôn dài, còn gọi là hoa chuôi. Nõn chuối xanh non, mịn và mỏng. Mỗi cây chuôi trưởng thành đều có thể cho ta một buồng chuôi. Tuỳ theo từng loại, có loại cho hàng trăm quả một buồng, có cả loại mỗi buồng cho cả nghìn quả. Nhiều cây còn trìu trịt quả từ ngọn xuống gốc.

Để códược vai trò quan trọng như hiện nay trong đời sống của người Việt Nam, chuối dã cống hiến cho đời sống vật chất không biết bao nhiêu. Thân cây thái nhỏ ra có thể làm thức ăn cho lợn rất tốt. Còn lá cây thì giúp ta trong các việc như là để gói xôi, gói bánh rất tiện lợi và dễ kiếm. Lá chuối khô có thể dùng làm chất đốt, để quấn bánh gai hoặc ở nông thôn, ta còn thấy lá chuối khô còn quấn nhỏ làm nút chai rượu. Không chỉ thế, hoa chuối còn dùng để làm nộm (nộm hoa chuối). Món nộm hoa chuối được rất nhiều người ưa thích, đặc biệt là học sinh vì nó vừa ngon lại vừa rẻ. Chỉ cần nhìn thấy thôi cũng đủ khiến cho ta cảm thấy thèm thuồng. Thái một ít nõn chuối ra cho vào đĩa rau muống xanh mướt là ta đã có một đĩa rau vừa ngon miệng vừa đẹp mắt. Quả chuối có lẽ là nhiều công dụng nhất. Các chị, các cô, các bà hay ăn chuối vì trong chuối có chứa nhiều chất vitamin rất tốt cho một làn da mịn màng. Và chủ yếu chuối thường dùng để ăn nhiều hơn vì nó rất ngon. Người ta còn thường dùng chuối thắp hương như một lễ vật dâng cho thần linh để thể hiện lòng tôn kính. Chính vì vậy, chuối là một loại trái cây rất được ưa thích tại Việt Nam và cả một vài nước khác. Cây chuối trong đời sống vật chất của người Việt Nam cũng khá quan trọng, nhất là trong hoàn cảnh kinh tế còn nhiều eo hẹp. ở nông thôn, mỗi khi chuối chín, người ta hay cắt ra thành từng nải để đem bán, những nải chuối đó đều rất rẻ nên nhiều người mua. Còn trong đời sống văn hoá của người Việt, cây chuối cũng như bưởi hay hồng, nó cũng là một trong năm loại quả dâng lên tổ tiên, nhất là các dịp lê Tết. Trong tâm thức của mỗi người, cây chuối là một loài cây tượng trưng cho sự thanh bình của làng quê, nhất là thời thơ ấu.

Cây chuối từ lâu đã chiếm một phần to lớn trong cuộc sống của người Việt Nam. Đối với mỗi người, cây chuối đã trở thành một loài cây vô cùng gần gũi, thân thiết.

Nguồn:

Bài văn hay thuyết minh về hồ Tây – hồ Trúc Bạch

Hồ tây thực là thắng cảnh của hà nội. Từ đời lí, trần, các vua chúa đã lập quanh hồ nhiều cung điện làm nơi nghỉ mát, giải trí như cung thúy hoa, điện hàm nguyên, cung từ hoa,v.v… Đời lê tương dực (thế kỉ xvi) đang xây dở cửu trùng đài, một lâu đài cao chín tầng, bệ ngọc, mái vàng. (năm 1515, lê tương dực bị giết, đài bị. Phá). Từ lâu, hồ tây đã đi vào thơ, ca dao cổ với những câu nổi tiếng:

Mịt mù khói tỏa ngàn sương nhịp chày yên thái, mặt gương tây hồ.

Thế kỉ xvi, ông nghè thái thuận, nhà ỏ’ mé bờ nam hồ, từng có thơ vịnh hồ tây (lời dịch):

Sớm theo cửa bắc chuông cùng dậy,

Chiểu đợi hồ tây chim rủ về.

Thế kỉ XVIII, nguyễn huy lượng viết một bài phú dài ca ngợi: tụng tây hồ phú.

Sau này thi sĩ tố hữu cũng có những vần thơ ngợi ca vẻ đẹp hồ tây: đềm qua trăng sáng cổ ngư,

Trăng đầy mặt nước, trăng như mặt người.

Trăng tưới mặt ngọc trên người,

Ngẩn ngơ trăng gió mặt người như trăng.

Cổ ngư nay là đường thanh niên, con đường ngăn một góc hồ tây thành ra một hồ biệt lập tức hồ trúc bạch. (cổ ngư còn có tên là cổ ngự được đắp khoảng ba bốn trăm năm lại đây). Hồ nằm bên đất

Làng trúc yên. Dân làng có nghề làm mành mành nên nhà nào cũng trồng trúc, do vậy có tên trúc lâm (rừng trúc). Đời chúa trịnh giang (1729 – 1740) xây ỏ’ đây điện trúc lâm làm nơi nghĩ mát. Sau điện này lại là nơi giam cầm những cung nữ có lỗi. Những cô gái này phải dệt lụa để tự túc. Lụa đẹp, bóng bẩy, gọi là lụa trúc, chữ hán là trúc bạch. Do vậy mà thành tên.

Còn nhớ tháng 11 – 1968, giặc lái mĩ mác-kên cùng chiếc máy bay đã bị bắn rơi xuống hồ trúc. Các chiên sĩ tự vệ ta đã bắt sống hắn. Nơi đó nay đã dựng một bia kỉ niệm chiến công. Ven hồ tây – hồ trúc còn là một vùng văn hóa đầy hấp dẫn. Con đường đi vòng quanh hồ, dài trên 10 km, dẫn khách qua những làng hoa yên phụ, nghi tàm, quảng bá, nhật tân… Qua những nơi chùa, đền cổ kính ấp ủ bao huyền thoại: chùa châu long có từ đời trần, đền an trì nguyên là nền nhà cũ của một tướng công giặc nguyên; chùa kim liên, nơi bà chúa từ hoa trồng dâu nuôi tằm; bảy cây gạo làng nhật tân, nơi bà lạc thị đời hùng vương binh sinh ra bảy con rồng; đền sóc ở quán la có dấu tích thánh gióng; chùa thiên niên ở trích sài nơi cô gái chàm mang tên việt là ngọc đô dạy dân nổi tiếng. Đây là một vùng văn hóa với nhiều bản sắc riêng. Và ven hồ có cả đền quán thánh, trấn quốc mà mỗi nơi đều có một giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc sắc.

Nguồn:

Thuyết minh về loại nhạc cụ dân tộc Đàn Nhị

Bài Làm

Đàn Nhị

Đàn nhị, có nơi gọi là đàn cò, là một nhạc cụ thuộc bộ dây, nhóm kéo bằng cung vĩ, một trong những loại nhạc cụ dân gian xuất hiện rất lâu đời ở nước ta. Trong các hình chạm trên cột đá chùa Phật Tích (Hà Bắc), người ta đã thấy cảnh người chơi nhị hòa tấu trong dàn nhạc. Đây cũng là loại nhạc cụ phổ biến trong nhiều dân tộc ở Việt Nam. Với mỗi dân tộc, nhị lại có một tên gọi, một hình thức cấu tạo khác, song, chúng vẫn thống nhất với nhau trên những nguyên tắc chung.

Âm thanh của nhị đẹp, gần với giọng người. Nhị có khả năng phong phú trong việc diễn tả những sắc thái tinh tế trong tâm hồn con người, do kĩ thuật diễn tấu của nó khá đa dạng với những ngón vuốt, nhân, rung, rồi khả năng thay đổi sắc thái, độ mạnh, nhẹ.

Nhị là một nhạc cụ không thể thiếu được trong các tổ chức dàn nhạc như phường bát âm, dàn Nhã nhạc, ban nhạc Chầu Văn, ban nhạc tài tử và các ban nhạc Chèo, Tuồng, Cải Lương..

ĐÀN TAM THẬP LỤC

Đàn Tam thập lục có một dàn cấu tạo hình thang cân với đáy ngắn chừng 65 đến 70cm, đáy dài chừng 75 đến 80cm, cạnh bên từ 45 đến 50cm. Như tên gọi, đàn Tam thập lục mắc 36 dây, theo chiều ngang của cây đàn. Mỗi dây đàn có kê ‘ngựa’ gỗ, chia thành hai âm cách nhau một quãng năm. Âm vực của Tam thập lục là nhạc cụ thuộc bộ dây, nhóm gỗ. Người chơi đàn sử dụng hai chiếc que tre gõ lên các sợi dây đàn để tạo nên âm thanh, bởi vậy khả năng diễn tấu linh hoạt, có thể tạo nên nhiều âm cùng một lúc. Đây là cây đàn có khả năng thuận lợi để chơi những bản nhạc ở tốc độ nhanh và sử dụng những kĩ thuật diễn tấu phức tạp.

 

Nguồn:

Thuyế mình về bài thơ Tương Tư của Nguyễn Bính

Bài Làm

Nếu không có sự nhút nhát đã không có bài thơ này. Chàng trai đa tình này đã phải lòng một cô gái nào đó ở thôn bên, chẳng rõ “nàng” có biết điều này không, mà chàng cứ thè’ nhớ nhung, mong ngóng, hờn dỗi, trách móc, hi vọng v. v… Và chỉ… ngồi một chỗ “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông”. Nếu chàng “xăm xăm băng lối” theo đúng “đạo” nam nhi chủ động tìm đến thì đã chẳng có “tương tư”, hoặc có thơ sè là một bài thơ khác. Nghịch tình, nghịch cảnh là cốt lõi của hình thái “tương tư” này. Nguyễn Bính có sở trường trong việc biểu hiện môtíp “xa cách nhớ thương” nhất là những “cách trở” trong khi chẳng có “khoảng cách” nào “cách nhau có giậu mồng tơi xanh rờn” và “đây cách một đầu đình”… thì ra ngăn trở lớn nhất là sự “nhút nhát rụt rè chân quê”. Đây cũng là một nguồn thơ Nguyễn Bính – Tương tư là hiện thân đầy đủ của một cái tôi “đa tình” mà “nhút nhát”.

Có thế nói ở Tương tư có đủ “thiên thời”, “địa lợi” còn thiếu mỗi… “nhân hòa”. Khổ thơ đầu đã gợi nên cái lẽ “tất yếu” của mối duyên này: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

Một người chín nhớ mười mong một người.

Gió mựa là bệnh cứa giời,

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Cũng bởi chỉ có “một người chín nhớ mười mong một người” thôi mà khổ thơ đã viện đến cả nắng mưa, trời đất. Nêu như “gió mưa là bệnh của trời” thì “tương tư là bệnh của tôi yêu nàng” nghĩa là hoàn toàn tất yếu, hợp quy luật. Nhưng chàng rụt rè một cách “ranh mãnh” nên không xuất đầu lộ diện – chàng ẩn nấp vào thôn – “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông”. Sự tài hoa đã bộc lộ ngay trong cặp lục bát đầu tiên là thế, nhất là ở câu thứ hai. “Một người” đầu này một người đầu kia, giữa họ là một chiếc cầu với chín nhịp nhớ, mười nhịp mong: “Một người chín nhớ mười mong một người”.

Anh yêu em là thuận lòng trời. Anh yêu em còn thuận cả lòng… đất nữa: Hai thôn chung lại một làng.

Nhưng đây cách một đầu đình.

Ây thế mà chúng mình vẫn chưa phải duyên nhau, vẫn chỉ là “tình xa xôi” và ngày tháng trôi đi thật hoài phí, con người mong đợi vẫn hoài công. Chàng bắt đầu kể lể, thở than và trách móc, hờn dỗi… cái việc em không sang thật trái với “lẽ trời”, “lẽ đời”.

Cuối cùng chàng còn tìm ra một “lý sự” khôn khéo nữa ở “giàn giầu”

và “hàng cau”.

Nào chỉ hợp với lòng trời, nào chỉ hai thôn “tạo điều kiện” không đâu. Ngay cả nhà anh và nhà em dường như các sự vật sinh ra đã ngầm “đính ước”, “hứa hôn” với nhau rồi. Chẳng thế mà:

Nhà em cố một giàn giầu,

Nhà tôi có một hàng cau liên phòng.

Trầu và cau sinh ra chẳng phải để tìm nhau, gặp nhau, “phải duyên nhau”, để mà “thắm lại” hay sao? Còn về bản thân anh? Sinh ra cũng đã thuộc về môi duyên này rồi, anh yêu em là tất yếu, là hiển nhiên rồi. Chữ “thì” ở đây là lời tuyên bố chính thức của chàng:

Thôn Đoài thì nhớ Thôn Đông

Tất cả còn lại chi phụ thuộc vào một mình em thôi:

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

Logic ngầm của một lời tỏ tình như vậy, “chặt chẽ” đến mức… “nguy hiếm”, “chết người”!

 

Nguồn:

Thuyết minh về chiếc áo dài Việt Nam

Bài làm

Cho đến trước ngày giải phóng Thủ đô (1954), phụ nữ vẫn theo phong tục cũ: ra đường là phải mặc áo dài, dù là người giàu hay người nghèo, dù đi lâu hay chóng, gần hay xa.

ở Hà Nội vào những năm 30, từ những tấm áo dài cổ điển dân tộc, có phần nào cổ lỗ, họa sĩ Cát Tường đã cách tân, biến tấm áo dài cũ thành áo dài kiểu mới, gọi là “áo dài tân thời”. Thứ có cổ áo cao, thứ không’cổ, còn khoét thêm cho rộng để ngầm khoe cái cổ trắng

nõn, hoặc cố cao ba ngấn. Tà trước không mở ở giữa màkín, chỉ cài cúc phía bên phải. Tấm áo “tân thời” đó, tấm áo ấy vân còn rát ít người mặc, chủ yếu là con nhà giàu sang, sinh viên, “các cô, các mọ-…”.

Tấm áo dài cổ, loại từ xưa đế lại có cái khác. Sang trọng ngày hội, ngày lễ, ngày tết… có áo mớ ba mớbảy, là loại áo mặc nhiều cái chồng lên nhau với nhiều màu khác nhau.

Áo dài ngày thường giản dị hơn. Đi chợ, đi làm, đi buôn bán chỉ là tâm áo tứ thân, nghĩa là bốn khố vải dọc. Riêng hai thân trước mở ở giữa, và thắt nút hai vạt lại với nhau, khi chỉ hờ hững thắt trễ tràng một nút, hoặc vội vã, cần chắc chắn hơn, thì thắt con đo lỏng lẻo đế gió không tốc tung lên kẻo bị chê là không đứng đắn.

Vài năm trở lại đây, sau mấy chục năm bị quên lãng, áo dài được xuất hiện trở lại. Thật đẹp và thật vui. Các cô nhân viên tiếp tân, bu’u điện, một số cửa hàng, nhất là ngày lễ, ngày tết… làm đường phô’ tươi đẹp, sinh động hẳn lên. Giờ tan trường các nữ sinh với tấm áo dài trắng như bướm bay phấp phới trên đường phố khiến nhiều người bồi hồi trước tuổi trẻ được chăm sóc chu đáo, và nhớ lại dăm chục năm trước, những tấm áo dài nữ sinh như thế đã làm mê mệt bao chàng trai thành phố. Với nữ sinh, có lẽ đẹp nhất vẫn là màu trắng, tinh khiết. Nhưng nghịch mắt nếu một cô nào muốn khoe cái ba-lô quai đen mới mua được, đem quàng qua vai, thay cho chiếc cặp ôm trước ngực. Đây là những nét phá nhau, nó không còn là mốt nữa mà là phản mốt. Áo dài là sự mềm mại, mỏng manh, nó không chấp nhận cái ba-lô mang dáng du lịch ôm đồm tất bật và cứng dơ.

Năm 1993, váy đầm các loại phát triển rầm rộ. Cũng là mốt. Không sao cả. Nhưng xét ra, tấm áo dài, vẫn là nét đẹp Việt Nam, từ áo mó’ ba mớ bảy, áo tứ thân, áo đổi vai, áo đồng lầm, áo tân thời, nay chỉ đơn thuần là tấm áo dài, ngắn một chút theo kiểu miền Nam hay dài hơn theo kiểu Hà Nội, tay thụng hay tay lửng, cổ cao hay cổ rộng, để trơn hay vẽ hoa… Mong sao tấm áo dài được có mặt hơn nữa, làm cuộc sống tươi vui lên.

Nguồn:

Thuyết mình HỒ TÂY – HỒ TRÚC BẠCH

Bài Làm

Hồ Tây rộng tới năm trăm hécta, con đường vòng quanh hồ dài tới 17 km. Địa lí – lịch sử cho rằng hồ là một đoạn sông Hồng cũ còn sót lại sau khi đổi dòng. Có thể do sông nước biến đổi như vậy mà xuất hiện nhiều truyền thuyết về tên hồ. Theo Truyện Hồ tính thì đây là hồ Xác Cáo: nguyên chỗ này là núi. Có con cáo chín đuôi tới ẩn nấp và làm hại dân. Long Quân mới dâng nước phá hang cáo, do đó đất sụt thành hồ vùi chôn xác cáo. Theo truyện Khổng Lồ có tài thu hết đồng đen phương Bắc đem về đúc chuông, tiếng vang sang Bắc con trâu vàng nghe liền vùng chạy đi tìm. Tới đây nó quấn mãi nên đất sụt thành hồ.

Đến đời Lý (thế kỉ XI) thì hồ này đi vào lịch sử với tên Dâm Đàm tức Mù Sương. Ngày ấy vùng này còn rậm rạp, cây cối um tùm, còn có cả thú lớn như hổ, báo. Thế kỉ XV, đổi tên là Tây Hồ. Lại còn có tên là Lãng Bạc và được coi như là một chiến trường thời Hai Bà Trưng chông Mã Viện. Thực ra thì Lãng Bạc, nơi diễn ra những trận đánh ngày đó không phải là vùng Hà Nội mà là vùng đất trũng xen gò đồi ở huyện Tiên Sơn, Hà Bắc. Song nếu hiểu ‘lãng’ là sóng lớn và ‘bạc’ là bến hoặc thuyền ghé bến thì Hồ Tây quả là bến có sóng lớn. về mùa giông bão, cho tới nay sông Hồ Tây cũng ghê gớm lắm.

Hồ Tây thực là thắng cảnh của Hà Nội. Từ đời Lý, Trần, các vua chúa đã lập quanh hồ nhiều cung điện làm nơi nghỉ mát, giải trí như cung Thúy Hoa, điện Hàm Nguyên, cung Từ Hoa v. v… Đời Lê Tương Dực (thế kỉ XVI) đang xây dở Cửu Trùng đài, một lâu đài cao chín tầng, bệ ngọc, mái vàng. (Năm Ị515 Tương Dực bị giết, đài bị phá). Từ lâu, Hồ Tây đã đi vào thơ, ca dao cổ với những cẩu nổi tiếng:

Mịt mù khói tỏa ngàn sương,

Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.

Thế kỉ XVI, ông nghè Thái Thuận, nhà ở mé bờ Nam hồ, từng có thơ vịnh Hồ Tây (lời dịch):

Sớm theo Cửa Bắc chuông cùng dậy,

Chiều đợi Hồ Tây chim rủ về.

Thể kỉ XVIII, Nguyễn Huy Lượng viết một bài phú dài ca ngợi: Tụng Tây Hồ phú!

Ngày nay, thi sĩ Tố Hữu cũng có những vần thơ ngợi ca vẻ đẹp Hồ Tây: Đêm qua trăng sáng cổ ngư,

Trăng đầy mặt nước, trăng như mặt người.

Trăng tươi mặt ngọc trên trời,

Ngẩn ngơ trăng gió mặt người như trăng.

 

Đường Cổ Ngư nay là đường Thanh Niên, con đường ngăn một góc Hồ Tầy thành ra một hồ biệt lập tức hồ Trúc Bạch. (Cổ Ngư còn có tên là cổ Ngự được đắp khoảng ba bốn trăm năm trở lại đây). Hồ nằm bên đất làng Trúc Yên. Dân làng có nghề làm mành mành nên nhà nào cũng trồng trúc, do vậy có tên Trúc Lâm (rừng trúc). Đời chúa Trịnh Giang (1729 – 1740) xây ở đây điện Trúc Lâm để nghỉ mát. Sau điện này lại là nơi giam cầm những cung nữ có lỗi. Những cô gái này phải dệt lụa để tự túc. Lụa đẹp, bóng bẩy, gọi là lụa trúc, chữ hán là trúc bạch. Do vậy mà thành tên.

Còn nhớ tháng 11-1968, giặc lái Mỹ Máckên cùng chiếc máy bay đã bị bắn rơi xuống hồ Trúc. Các chiến sĩ tự vệ ta đã bắt sống hắn. Nơi đó nay đã dựng một bia kỉ niệm chiến công.

Ven Hồ Tây – Hồ Trúc còn là một vùng văn hóa đầy hấp dẫn. Con đường đi vòng quanh hồ, dài trên 10 km, dẫn khách qua những làng hoa Yên Phụ, Nghị Tám, Quảng Bá, Nhật Tân… qua những nơi chùa, đền cổ kính ấp ủ bao huyền thoại: chùa Châu Long có từ đời Trần, đến An Trì nguyên là nền nhà cũ của một tướng chông giặc Nguyên. Chùa Kim Liên, nơi bà chúa Từ Hoa trồng dâu nuôi tằm: bảy cây gạo làng Nhật Tân, nơi bà Lạc Thị đời Hùng Vương sinh ra bảy con rồng: đền Sóc ở Quán L? có dấu tích Thánh Gióng, chùa Thiên Niên ở Trích Sài nơi cô gái Chàm mang tên Việt Là Ngọc Đô dạy dân nổi tiếng. Đây là một vùng văn hóa với nhiều bản sắc riêng. Và ven hồ còn có cả đền Quán Thánh, chùa Trấn Quốc mà mỗi nơi đều có một giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc sắc.

Nguồn:

Copyright © 2018 Xuân Hải Ml